Xem Nhiều 1/2023 #️ Giới Thiệu Chung Về Mitsubishi Jolie # Top 2 Trend | Sachlangque.net

Xem Nhiều 1/2023 # Giới Thiệu Chung Về Mitsubishi Jolie # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Giới Thiệu Chung Về Mitsubishi Jolie mới nhất trên website Sachlangque.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tìm mua xe Mitsubishi Jolie dễ dàng trên chuyên trang chúng tôi Jolie là một “chiếc xe thân thiện” vì những lý do sau:

Jolie là một chiếc MPV có thể mua được được (giá chỉ khoảng trên dưới 200 – dưới 400 triệu) – một sự đầu tư khá kinh tế cho một mục đích “Phương tiện đi lại”.

Jolie là một chiếc xe thực dụng đúng nghĩa của một phượng tiện đa dụng: có thể đi chơi cả gia đình 7 – 8 người ngồi thoải mái, đi làm hay giao dịch – vì nó vẫn đảm bảo tiêu chuẩn ngoại hình cao ráo, cân đối, mạnh mẽ, năng động…

Mitsubishi Jolie dễ bảo, phục vụ cần mẫn, không cầu kỳ nhỏng nhảnh lắm và luôn mạnh mẽ khi cần cao trào. Xe đằm, chắc nịch và “lành”. Jolie có thể lên rừng, xuống biển về “thôn” lên “thị” đều được hết.

Những cải tiến trên Jolie đời mới chủ yếu tập trung vào các thay đổi bề ngoài. Phần trước xe hoàn toàn khác so với đời trước. Mặt nạ két nước mạ crôm, với logo hình 3 viên kim cương nổi bật. Hai đèn pha được cách điệu, chạy vát theo đường gân mui xe, tạo dáng mạnh mẽ. Ngoài ra, các chi tiết như ốp nhựa bên hông, bọc bánh xe dự phòng (đều là trang bị tiêu chuẩn của xe Jolie SS) và bộ đèn sau dạng đứng cùng nhằm nhấn mạnh vào những nét thể thao của xe.

Nội thất rộng rãi, không cầu kỳ. Xe có 8 chỗ ngồi, khi cần thiết có thể gập hai hàng ghế phía sau để tạo ra không gian xếp hành lý rất lớn phía sau. Vô-lăng 4 chấu bọc da thiết kế nhìn khá bắt mắt. Xe vẫn sử dụng động cơ 2 lít, hệ thống phun xăng đa điểm.

Xe Mitsubishi Jolie trên trang chúng tôi giá Mitsubishi Jolie SS

Jolie SS là phiên bản cao nhất trong dòng xe Jolie, ra mắt từ năm 2004 – 2005, được trang bị động cơ phun xăng điện tử 4 xi lanh, dung tích 2.0L, công suất 123 mã lực.

Loại này được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng bởi hiệu quả sử dụng cao, tiết kiệm nhiên liệu, “ăn” khoảng 9 lít xăng/100km (đường trường) và khoảng 12 lít xăng/100km (đường đô thị).

Jolie có nội thất rộng rãi, không cầu kỳ. Xe có 8 chỗ ngồi, khi cần thiết có thể gập hai hàng ghế phía sau để tạo ra không gian xếp hành lý rất lớn phía sau. Vô-lăng 4 chấu bọc da thiết kế nhìn khá bắt mắt.

Mitsubishi Jolie (xe đa dụng 7 chỗ) đời 2003-2006 gồm các phiên bản: MB, SS và SS Limited. Máy 2.0, số sàn 5 cấp.

Phiên bản MB đa số là xe Taxi: mắt híp, bánh gầm. Bản SS và SS Limited: mắt xếch, bánh treo.

Nếu mua Jolie thì nên mua những xe đời từ 2003 trở đi, vì máy đời 2001-2003 sử dụng chế hoà khí nên rất tốn nhiên liệu khoảng 15-16L/100km.

Giá các phiên bản xe Mitsubishi Jolie trên trang chúng tôi điểm: Nội thất rộng rãi nhưng thiết kế đơn giản, tiện nghi đủ xài, cảm giác lái đầm, khả năng bám đường cao, phụ tùng dễ thay thế, sửa chữa và ít hỏng vặt.

Nhược điểm: bản MB chân côn và ga nặng, ắc-quy không tốt, vô-lăng nặng, đèn pha không được sáng, máy ồn và nhanh xuống, thắng xe thường bị lỗi, thường xuyên nên kiểm tra nhíp sau nếu không đi xe sẽ xóc. Tiêu hao nhiên liệu khoảng 9L/100km đường trường và khoảng 12L/100km nội thành.

Giới Thiệu Chung Về Huyện Vĩnh Lộc

I. tổng quan:

1.

                    

Điều kiện tự nhiên

:

Huyện Vĩnh Lộc nằm trong vùng đồng bằng sông Mã. Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hoá 45 Km về phía Tây- Bắc theo quốc lộ 45, cách thị xã Bỉm Sơn 40 km về phía Tây theo quốc lộ 217.

                     

Có toạ độ địa lý từ 19057’- 20008’vĩ độ Bắc

                     

Có toạ độ địa lý từ 105033’- 105046’

kinh độ Đông

Phía Bắc giáp huyện Thạch Thành, phía Nam giáp huyện Yên Định, phía Tây giáp huyện Cẩm Thuỷ, phía Đông là huyện Hà Trung.

Có diện tích tự nhiên 157,58 Km2, dân số trung bình 88.200 người (năm 2006); mật độ dân số 559 người/km2; có hai dân tộc là Kinh và Mường; có các tôn giáo: Phật giáo và Thiên chúa giáo.

Khí hậu thời tiết: Là huyện nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa Hạ khí hậu nóng ẩm và có chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng. Mùa Đông khô hanh có sương giá, sương muối. Xen kẽ giữa hai mùa chính là khí hậu chuyển tiếp: Giữa Hạ sang Đông là mùa Thu ngắn thường có bão lụt. Giữa Đông sang Hạ là mùa Xuân không rõ rệt thường có mưa phùn.

Nhiệt độ không khí trung bình là 23,40c. Từ tháng 5 đến 9 nhiệt độ trung bình lớn hơn 250C, cá biệt có những thời điểm nhiệt độ trên 400C.

Lượng mưa trung bình năm từ 1600 -1700 mm, hàng năm có khoảng 137 ngày có mưa, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 9 xấp xỉ 400 mm, thấp nhất là tháng 01 dưới 20 mm.

Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 86%. Mùa Đông, những ngày khô hanh heo độ ẩm xuống thấp dưới 50% (thường xảy ra vào tháng 12). Cuối Đông sang Xuân vào những ngày mưa phùn độ ẩm lên tới 89%.

2. Tài nguyên thiên nhiên.

a) Tài nguyên đất:

Tổng diện tích đất đai dang quản lý và sử dụng là 15.758,80 ha.

Trong đó:

    

 –

     Đất nông nghiệp: 8353,10 ha.

           Gồm đất sản xuất nông nghiệp: 6640,02 ha

                     

Đất Lâm nghiệp: 1553,73 ha

Trong đó đất rừng sản xuất: 325 ha

                     

Đất nuôi trồng thuỷ sản: 159,35 ha

                     

Đất phi nông nghiệp: 3668,87 ha

                     

Đất chưa sử dụng: 3736,81 ha.

b) Tài nguyên rừng:

Toàn huyện có 5467 ha đất đồi núi chiếm 34,74% diền tích tự nhiên; Rừng của Vĩnh Lộc chủ yếu là rừng trồng, không có rừng tự nhiên. Năm 2006 đất có rừng trồng sản xuất là 1.207 ha chiếm 22% diện tích đồi núi của huyện, trong đó đất rừng sản xuất 325 ha, rừng phòng hộ 217 ha.

c) Tài nguyên khoáng sản:

Vĩnh Lộc có các khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dụng gồm: Đá vôi và đá ốp lát.

– Mỏ đá vôi Vĩnh Ninh có trữ lượng 22 triệu tấn có thể làm nguyên liệu sản xuất xi măng và sử dụng vào công nghệ luyện kim.

– Mỏ đá ốp lát núi Bền Vĩnh Minh, đá có các màu xám, trắng, vân may, xám đen, có trữ lượng 2 triệu m3, phục vụ cho chế biến đá xuất khẩu. Ngoài ra còn có các mỏ đá nhỏ nằm rải rác ở các xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Yên,Vĩnh Thịnh,…

– Mỏ sét: Làm xi măng tại Vĩnh Thịnh có trữ lượng 780.000m3

– Mỏ sét Bãi Trời – Vĩnh Hưng có trữ lượng 7,8 triệu tấn, công dụng làm gạch, ngói nung.

d) Tài nguyên nước:

Huyện Vĩnh Lộc có 2 con sông: Sông Mã và sông Bưởi đây là nguồn nước ngọt dồi dào cung cấp nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân ngoài ra nguồn nước ngầm trong lòng đất đã và đang cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước sạch (cung cấp nước cho 2 địa phương: Thị trấn và xã Vĩnh Thành) và cung cấp cho hàng ngàn giếng khơi, giếng khoan phục vụ sinh hoạt trong nhân dân.

3. Nguồn nhân lực:

a) Dân số:

Đến 31/12/2008 là 89.796 người, trong đó năm 43.623 người; nữ 46.173 người.

b) Lao động:

Lao động trong độ tuổi: 51.404 người. Trong đó lao động đang làm việc trong ngành nông nghiệp: 32.792; lao động đang làm việc trong ngành dịch vụ: 2.347 người; lao động là cán bộ, công chức, viên chức: 2403 người.

4. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật:

a) Giao thông vận tải:

Hiện nay toàn huyện có gần 1000 km đường bộ các loại. Trong đó có:

                 + Quốc lộ 45 từ cầu Kiểu – Vĩnh Ninh đi qua các xã: Vĩnh Thành – Thị trấn Vĩnh Lộc – Vĩnh Tiến – Vĩnh Long – đi huyện Thạch Thành đoạn này dài 12,5 km.

                + Quốc lộ 217: Từ quốc lộ 1A qua Hà Trung, qua các xã Vĩnh Thịnh – Vĩnh Minh – Vĩnh Tân -Vĩnh Hùng – Vĩnh Hoà – Thị trấn Vĩnh Lộc – Vĩnh Tiến – Vĩnh Long -Vĩnh Quang – qua Eo Lê sang huyện Cẩm Thuỷ đoạn chạy qua huyện dài 25 km ngoài 2 tuyến quốc lộ, trên địa bàn có tỉnh lộ 5, đoạn chạy qua huyện dài 5 km (Vĩnh Hùng – Dốc Cuội – Thạch Thành)

                + Hệ thống giao thông liên xã, liên thôn cũng được mở mang, toàn huyện có 285 km đường xe cơ giới đi được và đã được rải nhựa hoặc bê tông hoá.

                – Đường thuỷ: Giao thông thuỷ trên địa bàn huyện được duy trì và phát triển, huyện có 2 tuyến sông: Sông Bưởi và Sông Mã tạo cho huyện có mạng giao thông thuỷ bộ khá hoàn chỉnh. Các cầu lớn nhỏ trên các tuyến giao thông đã được xây dựng và hoàn thành, phá thế ốc đảo, tạo thuận lợi cho sự phát triển về kinh tế – xã hội, cải thiện bộ mặt nông thôn.

b) Hệ thống điện:

Hiện nay trên địa bàn huyện được cấp điện từ 3 tuyến:

+ Tuyến 35 KV từ trạm 110 kv Yên Phong – Yên Định theo lộ 376 qua các xã Vĩnh Ninh – Trạm trung gian núi Đún xã Vĩnh Thành đi xã Vĩnh Long và đi huyện Thạch Thành cung cấp điện cho 12 xã và thị trấn.

+ Tuyến 10 kv từ trạm trung gian thị trấn Quán Lào – Yên Định qua xã Định Tân vượt sông Mã cấp điện cho các xã: Vĩnh Hùng, Vĩnh Tân, Vĩnh Minh, Vĩnh Thịnh, Vĩnh An.

+ Tuyến 35 KV mới xây dựng năm 2003 theo lộ 375 từ trạm 110 kv Hà Ninh (Hà Trung) đi Vĩnh Thịnh – Vĩnh Hùng – Vĩnh Thành khép mạch vòng với lộ 376 của trạm 110 kv Yên phong – Yên Định tại xã Vĩnh Thành.

Tổng đường dây các cấp điện áp 35 kv – 10 – 0,6 kv là 180 km tổng số các trạm biến áp là 70 trạm, trong đó 1 trạm trung gian 35 kv dung lượng 2 x 2500 KVA, gần 70 trạm tiêu thụ, tổng dung lượng gần 11.000 KVA.

c) Hệ thống bưu chính, viễn thông:

Huyện Vĩnh Lộc có 4 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông gồm: 

– Viễn thông Vĩnh Lộc thuộc VNPT cung cấp các dịch vụ: Internet, điện thoại cố định, điện thoại cố định không dây, điện thoại di động …

- Viễn thông quân đội (Vietteltelecom): Cung cấp các dịch vụ: internet, điện thoại cố định không dây, điện thoại di động.

– Viễn thông điện lực (EVN telecom): Internet, điện thoại cố định không dây, điện thoại di động… 

– S telecom: Điện thoại di động

1 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính thuộc VNPT.

– Huyện có 16 bưu điện văn hoá xã thuộc bưu điện Vĩnh Lộc và Viễn thông Vĩnh Lộc

d) Hệ thống cung cấp nước:

Huyện có trạm bơm Yên Tôn xã Vĩnh Yên là công trình đầu mối lớn của huyện với năng lực thiết kế: 2800 ha. Nhiệm vụ chủ yếu là là tưới vùng phía Tây sông Bưởi. Ngoài trạm bơm Yên Tôn trên địa bàn huyện còn được bố trí các trạm bơm Vĩnh Hùng, trên 30 trạm bơm khác phục vụ tưới, đưa tổng năng lực tưới bằng bơm toàn huyện là 7900 ha.

II. Cơ cấu bộ máy tổ chức:

– Chủ tịch

– 02 Phó chủ tịch

– Phòng Nội vụ

– Phòng Tư pháp

– Phòng Tài chính – Kế hoạch

– Phòng Tài nguyên và Môi trường

– Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội

– Phòng Văn hóa và Thông tin

– Phòng Giáo dục và Đào tạo

– Phòng Y tế

– Phòng Thanh tra huyện

– Văn phòng Hội đồng nhân dân và UBND

– Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

– Phòng Công thương

2. Chức năng, nhiệm vụ:

2.1. Phòng Nội vụ

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực: tổ chức; biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua – khen thưởng.

2.2. Phòng Tư pháp

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; chứng thực; hộ tịch; trợ giúp pháp lý; hoà giải ở cơ sở và các công tác tư pháp khác.

2.3. Phòng Tài chính – Kế hoạch

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: tài chính, tài sản; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp, thống nhất quản lý về kinh tế hợp tỏc xó, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân.

2.4. Phòng Tài nguyên và Môi trường

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài nguyên đất; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đo đạc, bản đồ và biển (đối với những địa phương có biển).

2.5. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: lao động; việc làm; dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Phòng, chống tệ nạn xã hội;

bình đẳng giới.

2.6. Phòng Văn hoá và Thông tin

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về:

văn hoá; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; bưu chính, viễn thông và Internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin; phát thanh; báo chí; xuất bản.

2.7. Phòng Giáo dục và Đào tạo

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình và nội dung Giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý Giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.

2.8. Phòng Y tế

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế cơ sở; y tế dự Phòng; khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; thuốc Phòng bệnh, chữa bệnh cho người; mỹ phẩm; vệ sinh an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; trang thiết bị y tế; dân số.

2.9. Thanh tra huyện

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và Phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

2.10. Văn Phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Tham mưu tổng hợp cho Ủy ban nhân dân về hoạt động của Ủy ban nhân dân;

tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc;

tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương; đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

2.11. Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; thuỷ lợi; thuỷ sản; phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã Nông, lâm, ngư nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn xã;

2.12. Phòng Công Thương

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; xây dựng; phát triển đô thị; kiến trúc, quy hoạch xây dựng; vật liệu xây dựng; nhà ở và công sở; hạ tầng kỹ thuật đô thị (gồm: cấp, thoát nước; vệ sinh môi trường đô thị; công viên, cây xanh; chiếu sáng; rác thải; bến, bãi đỗ xe đô thị); giao thông; khoa học và công nghệ.

III. Thắng cảnh du lịch:

Là huyện có bề dày lịch sử, có truyền thống cách mạng. Thời tiền sử Vĩnh Lộc là nơi cư trú của người Việt cổ, dấu vết thời kỳ đồ đá cũ còn lưu lại ở núi Nổ – Vĩnh An. Thời kỳ đồ đá mới có di chỉ Đa Bút (Vĩnh Tân).

                Vĩnh Lộc vùng địa linh đã sản sinh ra nhiều danh tiếng: Trần Khát Trân dũng tướng đánh bại quân Chiêm thành; Quốc công Trịnh Khả là một trong 28 vị tiền bối trong hội thề Lũng Nhai tại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân xâm lược nhà Minh giành độc lập dân tộc. Là đất tổ của Chúa Trịnh tồn tại trên 200 năm trong thời hậu Lê. Nơi sinh ra cụ nghè Tống Duy Tân một lãnh tụ trong phong trào Cần Vương chống Pháp.

Trong kháng chiến cứu quốc của dân tộc, Vĩnh Lộc là một trong những cái nôi của cách mạng Việt Nam (xã Vĩnh Long là căn cứ của chiến khu chống Pháp tại Thanh Hoá ).

Toàn huyện có 36 di tích lịch sử văn hoá được công nhận, trong đó có 5 di tích quốc gia có di tích Thành Nhà Hồ đang đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hoá Thế giới. Các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn toàn huyện được quản lý và từng bước được trùng tu, tôn tạo, nâng cấp nhằm khai thác giá trị văn hoá các di tích phục vụ đời sống tinh thần cho nhân dân và du khách.

Các danh lam, thắng cảnh nổi tiếng của địa phương:

– Di tích lịch sử:

1. Thành cổ Nhà Hồ và Đàn tế Nam giao (Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành)

2. Chùa Tường Vân (chùa Giáng) (Vĩnh Thành)

3. Phủ Trịnh (Vĩnh Hùng)

4. Vườn Tượng đá (Vĩnh Tân)

5. Di chỉ Đa Bút(Vĩnh Tân)

– Thắng cảnh thiên nhiên:

1. Động Tiên sơn và động Kim sơn (Vĩnh An)

2. Động Hồ Công

3. Hồ Mang Mang

IV. Tình hình phát triển kinh tế xã hội:

1. Khái quát chung:

Với lịch sử khai thác từ lâu đời, Vĩnh Lộc được biết đến với các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng các sản phẩm nổi tiếng là Sâm Báo, được coi là nhân sâm, đặc sản của núi Báo xã Vĩnh Hùng (Tốt như nhân sâm chứ không phải là nhân sâm). Thuốc cam sài, điệp (còn gọi là Soài Điệp) chữa bệnh sài mòn (suy dinh dưỡng) của trẻ em, gia truyền ở làng Soài, làng Cổ Điệp – xã Vĩnh Phúc. chè lam Phủ Quảng đã nổi tiếng cả vùng với đặc điểm cứng, giòn, mang đậm hương vị thơm ngon của gạo nếp cổ truyền, vị cay của gừng, vị bùi của lạc và ngọt ngào của mật mía làng Còng (Vĩnh Hưng). Đá đỏ, đá hoa cương ở núi Bền xã Vĩnh Minh. Ngoài ra còn có các nghề làm mật, trồng dâu và nuôi tằm, đan lát.

Từ cơ cấu thuần nông, lâm trước kia, đến năm 2008, huyện đã có cơ cấu kinh tế

Nông nghiệp: 49,8 %- công nghiệp: 19 %- dịch vụ: 31,2%

. Bình quân GDP trên đầu người đạt 500 USD/năm.

Tuy nhiên, về cơ bản Vĩnh Lộc vẫn là huyện nông nghiệp, nằm xa các vùng kinh tế động lực, kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, nhiều tiềm năng chưa được phát huy, tỷ lệ hộ nghèo còn tới 22,8% (theo tiêu chuẩn nghèo mới) 2008.

                Những năm tới, cùng với việc xây dựng những cánh đồng có giá trị thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm, phát triển cơ sở hạ tầng Vĩnh Lộc sẽ tập trung vào việc phát triển mạnh mẽ du lịch, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Đặc biệt là nghiên cứu xây dựng công trình phân lũ, chặn lũ và sống chung với lũ vùng sông Bưởi. 

2. Nông – lâm – thuỷ sản

Nông – lâm – thuỷ sản là ngành kinh tế chủ đạo của huyện. Cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá và sản xuất hàng hoá. Diện tích đất nông nghiệp của huyện là 6.587,7 ha chiếm 41,85% diện tích tự nhiên. Trồng trọt là ngành chủ đạo trong nông nghiệp với các cây trồng chính hiện nay là: lúa nước, ngô, khoai, sắn, rau quả thực phẩm, ớt, lạc, mía, đậu tương. Trước kia huyện còn trồng nhiều bông nhưng hiện nay không trồng nữa. Gần đây huyện đang chú ý trồng giống cây lúa nếp cái hoa vàng và tám thơm.

Diện tích cây lương thực có hạt tăng từ 11.094 ha năm 2000, lên

14.652,9

ha năm 2008. Lúa nước được trồng trên các loại đất được thuỷ lợi hoá. Diện tích trồng lúa cả năm ổn định ở mức 9.000 ha. Các giống lúa cao sản đang được đưa vào trồng nhiều. Huyện có 2 vụ chính là Chiêm Xuân và Thu mùa với diện tích tương đương nhau nhưng vụ lúa Thu mùa có năng suất thấp hơn vụ Chiêm Xuân. Năng suất lúa đã tăng hai lần trong vòng 20 năm qua và đạt

57,97 tạ/ha

năm 2008 cho sản lượng đạt 61.742 tấn. Vùng lúa trọng điểm phân bố ở phía ở các xã ven sông Mã – nơi có mật độ dân cư cao và hệ thống thuỷ lợi phát triển.

Chăn nuôi là ngành truyền thống và đang được chú ý phát triển. Tổng đàn trâu, bò có 14702 con năm 2000 và 

20.104

 con năm 2008 được chăn nuôi ở tất cả các xã trong huyện. Đàn lợn được nuôi ở tất cả các xã và ổn định trên 30 ngàn con. Đàn gia cầm tăng nhanh với các loại chủ yếu là gà, vịt, ngan. Ngoài ra một số gia đình còn nuôi dê và đã ra đời trang trại nuôi đà điểu với số lượng trên 300 con.

– Lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 3,53 % diện tích đất tự nhiên và tập trung ở phía Đông Bắc và Tây Bắc của huyện. Hiện nay công tác trồng rừng được đẩy mạnh theo Dự án 661 (quy hoạch 1.569 ha) và tái thiết Đức (quy hoạch 1.700 ha). Các cây lâm nghiệp chủ yếu là thông, bạch đàn, keo, tràm.- Thuỷ sản: Diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản nước ngọt là 197 ha, cho sản lượng là 563 tấn (năm 2006) với các loại chính là: cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép, cá chim trắng. Ngoài ra, trên các dòng sông Mã, sông Bưởi còn có 78 lồng, bè cá.

Năm 2008 toàn huyện có trên 133 trang trại, gia trại, Trong đó: 7 trang trại trồng cây lâu năm; 89 trang trại chăn nuôi; 15 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 22 trang trại tổng hợp.

3. Công nghiệp, dịch vụ:

Công nghiệp được phát triển chủ yếu dựa trên nguồn nguyên liệu tại chỗ (nông sản, khoáng sản) và nguyên liệu nhập từ các huyện miền núi (lâm sản).

Tổng số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là: 836, trong đó có 17 doanh nghiệp và 819 cơ sở sản xuất kinh doanh.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) 10.523 triệu đồng năm 1995 tăng lên 

56.775

triệu đồng năm 2008. 

– Thương mại: Thị trấn Vĩnh Lộc là trung tâm thương mại lớn. Ngoài ra, Vĩnh Lộc còn có 9 chợ phân bố ở các xã. Trong đó, một số chợ tiêu biểu là chợ Giáng có tiếng từ xa xưa, nay thuộc thị trấn Vĩnh Lộc quản lý, chợ Bồng có tiếng từ xa xưa, nay thuộc xã Vĩnh Tân quản lý, chợ Tây giai cũng là một chợ lớn của huyện nằm ở phía Tây thành Nhà Hồ.

Các mặt hàng chủ yếu: Lúa gạo, ngô, rau, đậu, thực phẩm, đá ốp lát, đá mỹ nghệ, mía, thuốc lá, ớt… các mặt hàng mua vào chủ yếu là điện, nhiện liệu, vật tư, nông nghiệp, thiết bị, máy móc, hàng tiêu dùng…

4. Tài chính ngân sách

Năm 2008, Tổng thu NSNN ước đạt: 123.529 triệu đồng. Trong đó: Thu tại địa bàn: 10.939 triệu đồng,

5. Văn hoá – xã hội

– Về giáo dục – đào tạo huyện có 3 trường THPT và 1 trương tâm giáo dục thường xuyên; có 16 trường THCS, 17 trường tiểu học và 16 trường mầm non. Đến năm 2008 có 21 trường đạt chuẩn quốc gia.

– Về y tế: Huyện có 1 trung tâm y tế, 1 bệnh viện đa khoa và 16 trạm y tế xã. Đến năm 2008 có 13 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Thể dục thể thao: Huyện có 1 sân vận động trung tâm có diện tích 1,2 ha và nhà thi đấu trung tâm có khả năng tổ chức các giải thi đấu cấp tỉnh. Ngoài gia còn có 146 sân vận động ở các xã phục vụ việc tập luyện và thi đấu các môn: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông

V.

Tiềm năng, thế mạnh và cơ hội đầu tư.

1.

                    

Tiềm năng và cơ hội đầu tư:

a) Tiềm năng:

– Có hai trục đường giao thông chạy qua, có sông Mã chạy qua trải dài 12,5 km

– Có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia trên địa bàn huyện đặc biệt là Thành nhà Hồ, đàn tế Nam giao, chùa Tường Vân …

– Về mặt tài nguyên thiên nhiên có nhiều núi đá vôi sản xuất vật liệu xây dựng và đá mỹ nghệ…

– Về lao động có nguồn lao động dồi dào, có 10 – 15% lao động đã qua đào tạo, đơn giá nhân công thấp.

b) Chính sách kêu gọi đầu tư:

Năm 2008 UBND huyện đã ban hành

cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và du lịch giai đoạn 2008-2015

nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư trên địa bàn huyện góp phần phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

 - Trùng tu tôn tạo Thành cổ nhà Hồ và đàn tế Nam Giao.

- Động Tiên Sơn và động Kim Sơn.

- Khu công nghiệp xã Vĩnh Minh.

– Cụm công nghiệp phố Giáng

VI. Mục tiêu và định hướng đến năm 2010:

1. Mục tiêu, định hướng đến năm 2010:

– Cơ cấu kinh tế nông, lâm, ngư: 41% – dịch vụ: 33% – công nghiệp, xây dựng: 26%.

– Tốc độ tăng trưởng: 13,5% trở lên

– GDP bình quân đầu người đạt 12 triệu đồng trở lên.

- Tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt 60.000 tấn trở lên.

- Tổng đàn trâu bò 30.000 con, trong đó 30% là lai sind; đàn lợn 60.000 con trong đó 30 % là lơn hướng nạc; đàn gia cầm 1 triệu con.

                     

Giá trị xuất khẩu đạt 1,5 triệu USD trở lên

                     

Tỉ lệ phát triển dân số dưới: 0,76%

                     

Tỉ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 4%

                     

Xây dựng 30 trường chuẩn quốc gia trở lên.

-    Khai trương 10 xã văn hoá; 90 % gia đình văn hoá.

                     

16/16 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

                     

Quốc phòng được tiếp tục tăng cường, an ninh được giữ vững.

 2. Nhiệm vụ và Giải pháp:

2.1. Về kinh tế:

a) Nông nghiệp:

Tiếp tục thực hiện phương án chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, tập trung gieo cấy lúa mùa cực sớm và né lụt để mở rộng diện tích sản xuất vụ đông, đưa vụ đông trở thành vụ sản xuất chính với diện tích từ 3.100 – 3.500 ha. ổn định diện tích gieo cấy hàng năm và mở rộng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao, đảm bảo an ninh lương thực. Tích cực đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là đổi mới cơ cấu giống và chủ yếu là các loại giống lai có năng suất và chất lượng cao như: cây lạc, cây ngô ngọt, cây đậu tương….Mở rộng diện tích cánh đồng có thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm kết hợp với việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống, cây trồng và vật nuôi mang lại hiệu quả cao.

Khuyến khích sản xuất theo mô hình trang trại, kết hợp giữa chăn nuôi – trồng trọt, giữa trồng cây lâm nghiệp – cây công nghiệp – cây ăn quả. Đầu tư để mở rộng quy mô phát triển các trang trại chăn nuôi lợn hướng nạc, nuôi trồng thuỷ sản theo mô hình cá lúa, bò lai sind. Mở rộng chăn nuôi đại gia súc theo hướng sản xuất hàng hoá. Thực hiện quy hoạch phân vùng, cho thuê đất thành lập các trang trại và đồng thời cụ thể các chính sách về thuế, vốn, khuyến khích, thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế trang trại. Chủ động thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Thực hiện kế hoạch trồng rừng đạt hiệu quả. Làm tốt công tác khuyến nông ở cơ sở và kỹ thuật chăn nuôi cho người lao động.

Tiếp tục chỉ đạo hoạt động các HTX theo luật để nâng cao chất lượng hoạt động của các HTX, xem đây là một hướng quan trọng tạo điều kiện để phát triển kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn.

b) Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ, XDCB:

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách kinh tế của nhà nước, của tỉnh, của huyện đối với sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ, chú ý tới vốn, lao động, đất đai, tài nguyên. Có quy hoạch, kế hoạch cụ thể để phát triển nhanh các cụm sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, coi trọng việc định hướng sản xuất, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra đời và phát triển, tạo điều kiện để lưu thông hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm.

Tiếp tục phát triển các ngành nghề hiện có và du nhập các nghề mới, ưu tiên phát triển và hoàn thành việc quy hoạch làng nghề tại xã Vĩnh Minh – Vĩnh Thịnh. Có chính sách cụ thể, thúc đẩy làng nghề phát triển như: quy hoạch, bố trí quỹ đất, kết cấu hạ tầng điện. Tăng cường công tác tìm kiếm thị trường cho các sản phẩm sản xuất tại địa phương, đồng thời kêu gọi, khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư vào Vĩnh Lộc.

Tạo điều kiện để dịch vụ thương nghiệp, du lịch phát triển ở thị trấn, thị tứ, các cụm kinh tế ở các địa phương, cải tạo nâng cấp một số chợ trọng điểm.

Chuẩn bị các điều kiện để hình thành mô hình kinh tế du lịch tập trung bảo vệ và xây dựng cảnh quan du lịch: Thành Nhà Hồ, Động Kim Sơn và các di tích phụ cận…

c) Hoạt động tài chính, tín dụng:

Thực hiện quản lý chặt chẽ công tác thu, chi ngân sách, tập trung thu đúng, thu đủ các loại quỹ, phí, lệ phí theo quy định. Khai thác tốt các nguồn thu trên địa bàn. Chi ngân sách đảm bảo đúng luật, hiệu quả, tiết kiệm.

Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, kho bạc, hệ thống tài chính. Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thoát và tiêu cực trong sử dụng ngân sách.

d) Tài nguyên- môi trường:

Tiếp tục quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010 cho các xã còn lại. Thực hiện đo đạc bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ dân sau khi thực hiện “ đổi điền dồn thửa”. 

Tăng cường kiểm tra các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc xử lý chất thải, nước thải. Phấn đấu 100% xã quy hoạch bãi chứa rác thải công cộng; 100% cơ sở sản xuất đá, trang trại đăng ký cam kết bảo vệ môi trường; 90% hộ dùng nước hợp vệ sinh; 70% hộ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh.

2. Văn hoá- xã hội:

a) Văn hoá- thông tin – thể dục thể thao.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Duy trì và phát triển các hình thức thông tin. Xây dựng thiết chế văn hoá, môi trường văn hoá, nếp sống văn hoá cơ sở. Tập trung nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hoá, cơ quan văn hoá, gia đình văn hoá. Tiếp tục thực hiện tốt các quy định trong việc cưới, tang, lễ hội.

Không ngừng phát triển phong trào văn hoá- văn nghệ quần chúng. Quản lý chặt chẽ các hoạt động tôn giáo lễ hội. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động văn hoá, quản lý tốt các di tích, danh lam thắng cảnh.

Duy trì và phát triển phong trào rrèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại. Tích cực xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thể dục thể thao. Khuyến khích hình thành các câu lạc bộ thể dục thể thao, thường xuyên rèn luyện để nâng cao thành tích trong thi đấu một số môn thể thao ở tỉnh.

b) Giáo dục:  

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tất cả các cấp họ, chú trọng giáo dục đạo đức, truyền thống, pháp luật. Tiếp tục thực hiện chủ trương đa dạng hoá loại hình trường lớp, thực hiện phong trào xã hội hoá giáo dục.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền đối với công tác giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất trường học gắn với thực hiện đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia.

Tăng cường củng cố kỷ cương trong dạy và học, củng cố và giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong thi cử, tuyển sinh.

c) Y tế- dân số, kế hoạch hoá gia đình:

Duy trì tốt việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho người nghèo. Thực hiện nghiêm túc các chương trình y tế quốc gia, thực hiện công tác phòng dịch, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm để không có dịch bệnh sảy ra trên địa bàn huyện. Nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức cho đội ngũ thầy thuốc, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ việc khám, chữa bệnh, bán thuốc của tư nhân.

Tiếp tục tăng cường công tác truyền thông dân số, dịch vụ, phục vụ công tác kế hoạch hoá gia đình. Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình, quan tâm đến nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc bà mẹ, trẻ em.

d) Thực hiện chính sách xã hội:

Tiếp tục chỉ đạo và đầu tư có hiệu quả cho trương trình giảm nghèo, thực hiện có hiệu quả nguồn vốn vay cho hộ nghèo, nguồn vốn vay giải quyết việc làm, ưu đãi để các hộ phát triển kinh tế trang trại, vườn đồi. Phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 4% – 5%. Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với hộ nghèo. Mở các lớp dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, hộ nghèo, người tàn tật từ 5 – 7 lớp với 200 – 300 người tham gia. Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài, phấn đấu đưa mỗi năm từ 200- 300 người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài.

Thực hiện tốt các chính sách xã hội như giải quyết việc làm, đền ơn đáp nghĩa, phòng chống các tệ nạn xã hội, tổ chức thực hiện tốt các chế độ đối với các đối tượng chính sách, người có công với nước, thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và các đối tượng chính sách khác.

II. lĩnh vực quốc phòng- an ninh:

Nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, nhất là chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng, cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, thủ đoạn gây rối, bạo loạn lật đổ của thế lực thù địch trên thế giới. Nâng cao nhận thức nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong tình hình mới cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và trong nhân dân.

Tiếp tục thực hiện phong trào toàn dân xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự, phong trào phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng vũ trang, kiên quyết giũ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng an ninh được giao.

Đối với phương thức hoạt động, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu thiết thực và hiệu quả, xây dựng xã, thị trấn vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt kế hoạch diễn tập quân sự và chỉ tiêu giao quân hàng năm.

Tích cực tuyên truyền giáo dục vận động nhân dân thực hiện và đấu tranh ngăn ngừa và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh nông thôn gắn phát triển kinh tế. Đẩy mạnh truy quét tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội. Giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, khiếu nại của công dân. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Củng cố sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quốc phòng- an ninh./. 

Giới Thiệu Về Thành Phố Hà Tiên

Hà Tiên là thành phố nhỏ nằm ở phía tây bắc của tỉnh Kiên Giang (trước đây nằm trong huyện Hà Tiên thuộc tỉnh Rạch Giá và sau đó thuộc tỉnh Kiên Giang). Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 13,7 km, Đông giáp huyện Giang Thành, Nam giáp huyện Kiên Lương, Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 26 km.

Địa hình

Thành phố Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo…tạo nên nhiều cảnh quan đẹp.

Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia, chảy vào khu vực Hà Tiên, dài khoảng 23 km. Sông đổ vào vũng Đông Hồ với chiều rộng cửa sông trên 200 m. Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ thành phố Châu Đốc đến thành phố Hà Tiên. Ngoài ra còn có sông Tô Châu và kênh Hà Tiên – Rạch Giá.

Các ngọn núi trên địa bàn thành phố hầu hết đều là những thắng cảnh như: núi Tô Châu, núi Đá Dựng, núi Bình San, núi Thạch Động… Ven biển Hà Tiên có nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển Lộc Trĩ (bãi biển Mũi Nai). Ngoài khơi có quần đảo Hải Tặc với nhiều đảo đẹp, có tiềm năng du lịch.

Khí hậu

Hà Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, khí hậu ở đây có những đặc điểm chính như sau: Số giờ nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ trung bình 150 – 160 kcal/cm² năm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 °C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 23,9 °C, thường rơi vào khoảng tháng 12 – tháng 1; nhiệt độ cao nhất là 30,20C, thường rơi vào tháng 4 – 5. Nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất có lần đo được là 14,8 °C, nhiệt độ tuyệt đối cao nhất là 37,6 °C. Độ ẩm trung bình 81,9%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiều năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các khu vực khác của đồng bằng Sông Cửu Long. Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm.

Tài nguyên

Đất: Diện tích tự nhiên năm 2015 của thành phố là 10.048,83 ha, trong đó đất nông – lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản là 7.472,7 ha (chiếm 74,36 %), trong đó nhiều diện tích có độ phèn mặn cao, nếu ứng dụng khoa học kỹ thuật tốt để nuôi trồng thủy sản để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích đất phi nông nghiệp là 2.373 ha. Đất chưa sử dụng là 203,07 ha (chiếm 2,02%) chủ yếu là bãi bồi, núi đá không có cây cối…

Nước: Hà Tiên nhận nước ngọt cung cấp từ sông Hậu qua kênh Vĩnh Tế, sông Giang Thành, kênh Rạch Giá – Hà Tiên.

Biển: Hà Tiên có khoảng 22 km chiều dài bờ biển, vũng Đông Hồ chia thành phố làm hai khu riêng biệt: phía Đông Nam là phường Tô Châu và xã Thuận Yên; phía Tây Bắc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài và phường Mỹ Đức. Xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng.

Lịch sử Thời phong kiến

Hà Tiên là tên gọi đã có từ xa xưa, qua từng thời kỳ, địa giới thay đổi từ vùng thành trấn, chuyển sang tỉnh, đổi thành quận, huyện và bây giờ là thành phố. Giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu đến đây khai phá thì vùng đất này vẫn còn hoang sơ, vắng vẻ. Cuối thế kỷ trên, thì Hà Tiên đã trở thành một thương cảng sầm uất.

Năm 1708, khi Mạc Cửu dâng đất lên cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn dùng hai chữ Hà Tiên để đặt tên cho cả vùng đất bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang và một số vùng lân cận ngày nay.

Thời Pháp thuộc

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm Nam kỳ lục tỉnh và chia tỉnh Hà Tiên thành các hạt tham biện Hà Tiên, Rạch Giá và Bạc Liêu.

Từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên được đặt dưới quyền chủ tỉnh Châu Đốc.. Ngày 9 tháng 2 năm 1924, Hà Tiên lại trở thành một tỉnh độc lập. Năm 1924, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận: Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Tỉnh lỵ Hà Tiên đặt tại làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành.

Giai đoạn 1956-1976 Việt Nam Cộng hòa

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để ” thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và 4 quận là Châu Thành, Hòn Chông, Giang Thành, Phú Quốc được sáp nhập vào tỉnh Rạch Giá để thành lập tỉnh Kiên Giang.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hà Tiên chỉ là một quận của tỉnh Kiên Giang. Quận Hà Tiên gồm 3 xã Mỹ Đức, Phú Mỹ và Thuận Yên, 15 ấp. Quận lỵ đặt tại xã Mỹ Đức.

Từ năm 1976 đến nay

Ngày 27 tháng 9 năm 1983, chuyển thị tứ Kiên Lương thành thị trấn Kiên Lương trực thuộc huyện Hà Tiên.

Cuối năm 1997, huyện Hà Tiên có 2 thị trấn: Hà Tiên, Kiên Lương và 9 xã: Bình An, Dương Hòa, Hòa Điền, Mỹ Đức, Phú Mỹ, Tân Khánh Hòa, Thuận Yên, Tiên Hải, Vĩnh Điều.

Ngày 8 tháng 7 năm 1998, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 47/1998/NĐ – CP, về việc thành lập thị xã Hà Tiên và các phường thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Cụ thể như sau:

Thành lập thị xã Hà Tiên trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Hà Tiên, xã Thuận Yên (trừ 2.732 ha diện tích tự nhiên và 3.302 nhân khẩu giao về xã Phú Mỹ quản lý), xã Mỹ Đức và xã Tiên Hải thuộc huyện Hà Tiên. Thị xã Hà Tiên có 8.573,39 ha diện tích tự nhiên và 34.541 nhân khẩu, gồm 4 phường và 3 xã.

Thành lập 4 phường thuộc thị xã Hà Tiên trên cơ sở thị trấn Hà Tiên (cũ) và 618 ha diện tích tự nhiên, 1.116 nhân khẩu của xã Mỹ Đức cụ thể như sau:

Thành lập phường Bình San trên cơ sở 148,55 ha diện tích tự nhiên và 5.698 nhân khẩu.

Thành lập phường Đông Hồ trên cơ sở 1.571,64 ha diện tích tự nhiên và 8.360 nhân khẩu.

Thành lập phường Tô Châu trên cơ sở 247,2 ha diện tích tự nhiên và 4.273 nhân khẩu.

Thành lập phường Pháo Đài trên cơ sở 805 ha diện tích tự nhiên và 6.507 nhân khẩu.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, các xã thuộc thị xã Hà Tiên cụ thể như sau:

Đường phố của thành phố Hà Tiên trước năm 1975

Xã Mỹ Đức có 1.632 ha diện tích tự nhiên và 3.302 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Mỹ Đức: Đông giáp phường Đông Hồ; Tây giáp biển; Nam giáp phường Bình San và phường Pháo Đài; Bắc giáp biên giới Vương quốc Campuchia.

Xã Thuận Yên có 3.042 ha diện tích tự nhiên và 5.346 nhân khẩu. Địa giới hành chính xã Thuận Yên: Đông giáp huyện Hà Tiên; Tây giáp phường Tô Châu; Nam giáp biển; Bắc giáp phường Đông Hồ.

Xã Tiên Hải (xã đảo) có 1.100 ha diện tích tự nhiên và 1.055 nhân khẩu.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Hà Tiên có 89.548,5 ha diện tích tự nhiên và 62.162 nhân khẩu, gồm 6 xã và 1 thị trấn. Xã Phú Mỹ thuộc huyện Hà Tiên có 15.037,5 ha diện tích tự nhiên và 4.584 nhân khẩu.

Ngày 21 tháng 4 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 28/1999/NĐ – CP về việc đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang.

Giáo dục

Ngày 17 tháng 9 năm 2012, thị xã Hà Tiên được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Kiên Giang.

Y tế

Đường Thủ tướng Thinh nay là đường Mạc Cửu

Kinh tế

Đường Đê nay là đường Võ Văn Ý

Giao thông

Đường Nam Phố nay là đường Đông Hồ

Năm 2000 – 2001, trên địa bàn thành phố Hà Tiên có 13 trường, gồm 1 trường mầm non và 12 trường thuộc ngành giáo dục phổ thông (7 trường tiểu học, 3 trường Trung học cơ sở, 1 trường Phổ thông Trung học, 1 trung tâm giáo dục kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề). Đến nay, các xã phường đều có trường tiểu học và đã đầu tư hoàn thành Trường Trung học Phổ thông thành phố, chia tách trường cấp II và cấp III đi vào hoạt động năm học 2000 – 2001.

Thành phố nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên, có đường biên giới với Campuchia cả trên đất liền và biển, cách tỉnh Kampot của Campuchia 60 km và cảng Kep của thành phố Kep 20 km, rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế cửa khẩu với Campuchia, tạo mối quan hệ với Thái Lan qua mạng lưới đường thủy, hàng không.

Cảng thị cổ sầm uất

Trên địa bàn thành phố Hà Tiên hiện có 23,5 km đường quốc lộ; 9,04 km tỉnh lộ; 26,13 km đường nội ô thành phố và 27,5 km đường giao thông nông thôn. Trong đó, quan trọng nhất là tuyến quốc lộ 80, nối thành phố Rạch Giá – thành phố Hà Tiên và sang tận Campuchia. Kể từ tháng 12 năm 2008, có thêm tuyến tàu khách cao tốc đi đến huyện đảo Phú Quốc. Hiện nay, đã có tuyến xe buýt của các hãng du lịch có chất lượng đi từ Hà Tiên – Campuchia.

Hiện nay thành phố đang triển khai đầu tư xây dựng khu đô thị Hà Tiên nằm trên địa bàn phường Pháo Đài.

Năm 1983, một chiếc trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở đảo Lại Sơn (Sơn Rái), huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Cổ vật này là chứng tích cụ thể còn sót lại trên đường hải hành của người Việt cổ. Họ khởi hành từ Vịnh Bắc bộ, nương theo gió mùa Đông Bắc – Tây Nam, men ven bờ bán đảo Đông Dương để vào Vịnh Thái Lan …và họ đã gặp một nơi khá thích hợp để làm trạm dừng chân, sau có người định cư luôn, đó là vùng đất mà bây giờ có tên là bán đảo Mũi Nai (Hà Tiên).

Nước này có nhiều núi cao, địa hạt khoảng trăm dặm vuông. Thành và các cung thất làm bằng gỗ không khác Trung Quốc mấy. Chỗ vua ở xây bằng gạch ngói. Chế độ trang phục phảng phất các vua đời trước, búi tóc, đi võng, chít khăn, đội mũ. Vua mặc áo bào vẽ trăn rắn, lưng thắt dải đai, giày dép bằng da. Dân mặc áo vạt cổ rộng. Khi có tang thì mặc đồ màu trắng, bình thường thì áo nhiều màu…Họ gặp nhau thì chắp tay chào theo lễ. Phong tục nước này ham chuộng thơ văn, trong nước có dựng đền thờ Khổng Tử. Vua và dân đều đến lễ… Giải thích một vài tên gọi Hà Tiên

Tác giả Lê Trọng Khánh viết: “Từ Lưỡng Việt đến Mũi Nạy (Mũi Nai) ở phía Nam là địa bàn gốc của người Lạc Việt có nguồn gốc và ngôn ngữ chung, nằm trong khối Bách Việt” Về sau, vùng đất này đã chứng kiến biết bao đợt người tiếp nối, từ người Việt cổ đến Phù Nam, qua Khmer rồi đến người Việt hiện đại…

Phương Thành

Hà Tiên vào thời Mạc Cửu còn có tên gọi là Mang Khảm, là một mắt xích quan trọng ở phía Đông vịnh Thái Lan, trên tuyến hàng hải thương mại châu Á qua vịnh Thái Lan, men theo bờ biển Đông Việt Nam lên Quảng Châu, Trung Quốc hay Luzon, Philippines. Thời kỳ cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ (1706-1780) cai quản vùng đất này, đã áp dụng một chính sách tự do và coi trọng thương mại. Mạc Thiên Tứ mở cảng cho tàu buôn nước ngoài buôn bán tự do. Hà Tiên trở thành điểm đến của các đoàn thương thuyền từ bán đảo Mã Lai, các đảo Sumatra, Java, các nước Xiêm, Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc ( Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam),…

Vào các dịp sinh nhật Mạc Thiên Tứ (12 tháng chạp âm lịch), các thuyền buôn được phép vào cảng Hà Tiên miễn thuế. Từ lâu đời, nghề chế sáp trắng (bạch lạp) để thắp sáng là một nghề truyền thống ở Hà Tiên, cung cấp cho các nước lân cận như Trung Quốc, Xiêm, Mã Lai,… Ngoài ra đất này còn có nhiều sản vật thương mại khác nữa, Lê Quý Đôn từng viết trong Phủ biên tạp lục: …Huyền phách sản ở trấn Hà Tiên, có khối lượng như đồng, sắc đen như sắt, người ta nói dùng nó có thể lánh được gió độc, tiện làm tràng hạt..

Phù Dung

Đề cập đến xứ Hà Tiên thời bấy giờ, sách Thanh triều văn hiến thông khảo có đoạn:

Tà Teng là một ấp cư dân cổ ở hướng Đông Bắc thành phố Hà Tiên, nằm bên bờ trái sông Giang Thành. Khi xưa, người Khmer gọi sông này là Tà Teng (sau là Prêk Ten). Tà có nghĩa là sông, Teng là tên sông. Sách Nghiên cứu Hà Tiên viết: Cách giải thích cũ “nơi đây xưa kia có tiên hiện xuống đi lại trên sông, nên gọi là Hà Tiên” là không có căn cứ và thiếu khoa học.

Phương Thành là một tên gọi của Hà Tiên xưa. Vương Hồng Sển giải thích: Xưng Hà Tiên là Phương Thành là vì đắp lũy tre giáp vòng để chống quân Xiêm, Miên. Đồng ý kiến này có Trần Thiêm Trung, trong Hà Tiên địa phương chí (1957), ông viết: “Tại trấn lỵ, một thành vuông, đặt tên Phương Thành, chung quanh bao bọc chiến lũy, trồng tre gai, vì thế còn có tên chung là Trúc Bàn Thành.”

Mũi Nai

Sách Nghiên cứu Hà Tiên cho biết thêm và giải thích khác: Trúc Bàn Thành còn gọi là trường lũy Thị Vạn hay bờ Đồn Lớn. Có người hiểu là Thành Thơm ( Gia Định thành thông chí, Phương Đình dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí) hay hiểu lầm là Thành Vuông (vì vậy, có người dịch là ville Carrée. Dẫn theo Thi sĩ Đông Hồ, Nam Phong số 143, tháng 10 năm 1929). Nhưng vì đâu có cái tên Phương Thành, sách Nghiên cứu Hà Tiên của Trương Minh Đạt, giải thích: “Ở Hà Tiên có núi Bà Lý (Pang Li), cao 30m, người Hoa đọc chệch là Pang-Lũy, rồi nó trở thành Pang Thành, rồi Việt hóa thành Phương Thành“. Ngoài ra, đất Hà Tiên còn có tên Trúc Bàng Thành, đây chính là biến âm của một địa danh đã có sẵn ở địa phương: Phnom Tà Pang. Ở sách Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu còn ghi tên Đồng Trụ Trấn, theo ông Đạt thì đây là một địa danh ” nghe sai, đoán phỏng” mà thôi.

Mang Khảm

Tên Phù Dung Vạn Sơn được đặt cho quần thể núi non ở Hà Tiên, chính là do tên gọi Phù Youn. Người Xiêm gọi “phù” là núi. Tất cả người Xiêm, Khmer, Chăm, Lào đều gọi người Việt là “Youn” hay “Duôn” (tiếng Phạn có nghĩa là người man di ở hang động). Tên Phù Youn được người Hoa phiên âm thành Phù Dung. Như vậy “Phù Youn” có nghĩa là vùng núi của người Việt. Điều đó, cho thấy khi xưa chủ nhân vùng đất này là người Việt cổ. Sau này, cái tên Phù Dung (Pù Youn) chỉ còn được dùng để chỉ một ngọn núi cao 53 m, mà Trịnh Hoài Đức đã chép trong “Gia Định thành thông chí”:

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Ti%C3%AAn

Núi Phù Dung: cách trấn thự về phía tây bắc hơn 1 dặm. Ở đây hang hố xanh rậm lâu đời; chùa Phù Dung ở phía tây nam chân núi, tiếng chuông mõ pha trộn, tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào của phố thị, thật là cảnh nửa tăng nửa tục...

Do vậy, tác giả sách Nghiên cứu Hà Tiên, đã nói vui rằng tên chùa không có nghĩa “hoa sen” hay giống hoa “tí ngọ” nào đó, như có người đã tưởng tượng.

Xa xưa, gọi là Mũi Nạy, vì nơi đó có núi Pù Nạy (Pù là núi, Nạy là lớn) mà người khmer nói trại là P’Nay hay Bà Nay. Lớp người Việt đến sau bắt chước đọc âm này thành Nai. Đến thời Mạc Thiên Tứ, nhóm người Hoa dịch chữ Nai ra chữ Hán là Lộc ( Lộc Trĩ sơn, Lộc trĩ thôn cư).

Mang là phiên âm Hán – Việt của Mường (tiếng Mường- Thái). Về chữ Mang, Trịnh Hoài Đức giải thích: “Những chỗ người Bắc địch tụ hội, chỗ lớn gọi là Bộ, chỗ nhỏ gọi là Lạc; người Xiêm, lào đều gọi là Mang, người Khmer gọi là Súc.” Khảm, người Khmer nói là Krom, tiếng Mã Lai gọi là Kram, tiếng Nôm gọi là Hỏm hay Tràm có nghĩa thấp, ngập. Cho nên Mang Khảm (tức trấn Hà Tiên) có nghĩa là “xóm dân vùng nước ngập”. Theo Nghiên cứu Hà Tiên, “bởi khởi đầu bằng chữ Mang, đơn vị dân cư theo ngôn ngữ Mường – Thái, nên có thêm một lý do nữa để xác định rằng đây không phải là đất Chân Lạp. Người Chân Lạp (Khmer) chỉ dùng chữ Srock (hay Súc) hoặc Phum

Giới Thiệu Tỉnh Điện Biên

Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có tọa độ địa lý 20o54′ – 22o33′ vĩ độ Bắc và 102o10′ – 103o36′ kinh độ Đông. Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào. Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung hơn 455 km, trong đó: Đường biên giới tiếp giáp với Lào là 414,712 km; với Trung Quốc là 40,86 km; có đường giao thông đi các tỉnh Bắc Lào và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, có đường hàng không từ Điện Biên Phủ đi Hà Nội với tần suất bay bình quân ngày 02 chuyến. Tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện với 130 xã, phường, thị trấn (trong số đó có 29 xã biên giới); dân số gần 55 vạn người, gồm 19 dân tộc anh em. Trên tuyến biên giới Việt – Lào, ngoài 2 cửa khẩu đã được mở là Huổi Puốc và Tây Trang, còn 3 cặp cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở. Trên tuyến biên giới Việt – Trung có cặp cửa khẩu A Pa Chải – Long Phú. Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước, được Chính phủ hai nước Việt Nam – Lào thỏa thuận nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và Khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng. Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào – Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma.

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa Đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường, phân hoá đa dạng, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21o – 23oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau (từ 14o – 18oC), các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 – 9 (25oC) – chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m. Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1.300 – 2.000mm, thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 76 – 84%. Số giờ nắng bình quân từ 158 – 187 giờ trong năm; các tháng có giờ nắng thấp là tháng 6, 7; các tháng có giờ nắng cao thường là các tháng 3, 4, 8, 9.

Điện Biên là nơi hội tụ sinh sống của 19 dân tộc anh em (Thái; Mông; Kinh; Dao; Khơ Mú; Hà Nhì; Lào; Hoa (Hán); Kháng; Mường; Cống; Xi Mun; Si La; Nùng; Phù Lá; Thổ; Tày; Sán Chay và dân tộc khác). Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa… tạo thành bức tranh đa sắc màu cho nền văn hóa Điện Biên.

Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2015, dân trung bình tỉnh Điện Biên 547.785 người, trong đó: nam 273.931; nữ có 273.854 người; dân số sống tại thành thị đạt 82.691 người; Dân số sống tại nông thôn đạt 465.094 người.

Tỉnh Điện Biên gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện:

Hiện tỉnh Điện Biên có 130 đơn vị cấp xã gồm 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã.

Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất tính đến 31/12 năm 2014, Điện Biên có tổng diện tích đất là 954.125,06ha. Trong đó:

– Đất sản xuất nông chiếm chủ yếu với 75,89% tổng diện tích.

– Đất phi nông nghiệp (sử dụng để ở, phục vụ mục đích công cộng, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp…) chiếm 2,54%.

– Đất chưa sử dụng vẫn chiếm diện tích tương đối lớn với 21,57%, chủ yếu là đất đồi núi, núi đá không có rừng cây.

Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng lớn về rừng. Toàn tỉnh có 350.854,79ha đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 48,46% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh). Trong đó: Rừng sản xuất chiếm 30,95%; rừng phòng hộ 55,31% và rừng đặc dụng chiếm 13,74%.

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá – lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ – Mường Phăng; các cứ điểm Him Lam, Bản kéo, Độc lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờ cát).

Bên cạnh đó là rất nhiều các hang động, nguồn nước khoáng và hồ nước tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú, như: Rừng nguyên sinh Mường Nhé; các hang động tại Pa Thơm (Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; các hồ Pá Khoang, Pe Luông…

Ngoài ra, Điện Biên còn có tiềm năng văn hóa phi vật thể, với 19 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng rất đa dạng, hiện nay vẫn còn giữ được các phong tục tập quán vốn có, điển hình là dân tộc Thái và H’ Mông…

Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn của cả nước là: Sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông.

Nguồn tài nguyên nước mặt rất phong phú với hơn 10 hồ và hơn 1.000 sông, suối lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều. Sông suối ở Điện Biên nhiều, nguồn nước tương đối dồi dào. Đây là nguồn nước chủ yếu mà hiện nay Điện Biên đang khai thác và sử dụng. Tuy nhiên, địa hình cao, dốc; nhiều thác, ghềnh; có lượng dòng chảy lớn; lượng dòng chảy giảm dần từ phía Bắc đến phía Nam của tỉnh. Các huyện Mường Chà và phía bắc Tuần Giáo có một dòng chảy từ 30 – 40 l/s/km2; huyện Điện Biên và phía nam Tuần Giáo chỉ còn 20 l/s/km2. Vì vậy, khả năng giữ nước vào mùa khô rất khó khăn.

Nguồn nước ngầm của tỉnh Điện Biên được tập trung chủ yếu ở các thung lũng lớn như huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa. Các thung lũng này có trữ lượng nước ngầm khá lớn và hình thành túi đựng nước ở độ sâu từ 20 đến 200m. Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ thực hiện một số mũi khoan thử nghiệm, chưa đi vào khai thác.

Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều điểm có khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm: Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay, thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ điện Nậm He trên suối Nậm He, thuỷ điện Nậm Pồ trên suối Nậm Pồ, hệ thống thuỷ điện trên sông Nậm Rốm, Nậm Khẩu Hú… Tuy nhiên, việc khai thác các tiềm năng này còn ở mức khiêm tốn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh mới có một số nhà máy thuỷ điện như Nà Lơi 9.300KW, thác Bay 2.400KW, Thác trắng 6.200KW, Nậm Mức 44Mw đang được xây dựng và khai thác khá hiệu quả.

Bạn đang xem bài viết Giới Thiệu Chung Về Mitsubishi Jolie trên website Sachlangque.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!