Top 19 # Biển Báo Giao Thông Đường Bộ 2019 Pdf / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sachlangque.net

Nhận Dạng Biển Báo Giao Thông Đường Bộ.pdf / 2023

Trần Thị Tuyết

NHẬN DẠNG BIỂN BÁO GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Chuyên ngành: Khoa học máy tính Mã số: 60.48.01.01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2013

2

Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC DŨNG

Phản biện 1: …………………………………………………………

Phản biện 2: …………………………………………………………

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Vào lúc: ….. giờ ……. ngày ….. tháng ….. năm …………

Có thể tìm hiểu luận văn tại: – Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

1

MỞ ĐẦU  Lý do chọn đề tài Ngày nay, khi tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu giao thông đi lại của con người càng trở thành vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, Việt Nam giao thông luôn là một vấn đề nóng của xã hội. Từ quy mô phát triển đến cơ sở hạ tầng. Ý thức tự giác và cảnh giác của người tham gia giao thông tại Việt Nam lại chưa cao. Theo số liệu thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong 9 tháng đầu năm 2013, cả nước đã xảy ra 23.619 vụ tai nạn, làm chết 6.908 người và 25.002 người bị thương. Từ tình hình thực tế giao thông tại Việt Nam, có nhiều nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn giao thông đường bộ, nhưng phần lớn là do tài xế không làm chủ tốc độ, không quan sát hoặc không kịp nhận ra các loại biển báo và tín hiệu giao thông. Đây là những nguy hiểm đã được cảnh báo trước nhưng tai nạn vẫn thường xuyên xảy ra, gây không ít thiệt hại về tính mạng và tài sản của người tham gia giao thông.

2

Cho đến nay vấn đề này được nhiều nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Nhưng những biển báo giao thông được nghiên cứu không phải dùng cho giao thông đường bộ tại Việt Nam. Trong khi đó tình hình nghiên cứu biển báo giao thông tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đầy đủ. Vì vậy, luận văn đã chọn đề tài “Nhận dạng biển báo giao thông đường bộ” để nghiên cứu với mục đích hiểu được nền tảng công nghệ, các lý thuyết cơ bản trong bài toán xử lý ảnh và áp dụng trong việc nhận dạng biển báo giao thông một cách tự động.  Mục đích nghiên cứu –

Nghiên cứu tìm hiểu các phương pháp nhận

dạng biển báo giao thông và cài đặt thử nghiệm chương trình phát hiện và nhận dạng biển báo giao thông đường bộ từ hình ảnh tĩnh và video thu về, sau đó hiển thị thông tin cảnh báo dưới dạng hình ảnh.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Biển báo giao thông đường bộ ở Việt Nam.  Phương pháp nghiên cứu

3

– Tìm hiểu bộ ảnh biển báo giao thông đường bộ tại Việt Nam, thu thập hình ảnh, video biển báo giao thông từ các nguồn khác nhau (google image, tự chụp, …) – Tìm hiểu phương pháp phát hiện biển báo giao thông dựa trên trích chọn đặc trưng Haar-like kết hợp với bộ tăng tốc Adaboost. – Tìm hiểu phương pháp nhận dạng biển báo giao thông đường bộ: Luận văn có sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính Principal Components Analysis (PCA) và máy vector hỗ trợ Support Vector Machine (SVM) để nhận dạng biển báo giao thông. – Cài đặt chương trình thử nghiệm và đánh giá kết quả nhận dạng.  Bố cục luận văn Luận văn chia thành ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần mở đầu: Nêu lên lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Phần nội dung:

4

Chương 1: Tổng quan về xử lý ảnh. Chương này trình bày những lý thuyết cơ bản về xử lý ảnh, tổng quát các phương pháp phổ biến trong quá trình phát hiện và nhận dạng đối tượng. Chương 2: Phát hiện và nhận dạng ảnh. Phát biểu bài toán nhận dạng biển báo giao thông và trình bày nền tảng công nghệ, chi tiết các thuật toán hỗ trợ trong việc phát hiện và nhận dạng biển báo bao gồm: Trích chọn đặc trưng Haar-like, bộ tăng tốc Adaboost, phân tích thành phần chính PCA và bộ phân lớp SVM. Chương 3: Cài đặt và thử nghiệm. Tác giả sử dụng ngôn ngữ VC++ MFC của bộ Visual Studio 2008, và bộ thư viện xử lý ảnh mã nguồn mở OpenCV của Intel để xây dựng chương trình. Sau đó phân tích và đánh giá kết quả nhận dạng. Cuối cùng là Phần kết luận và hướng phát triển của đề tài.

5

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ ẢNH 1.1 Một số khái niệm trong xử lý ảnh 1.1.1 Xử lý ảnh là gì? 1.1.2 Một số khái niệm 1.2 Một số phương pháp biểu diễn ảnh 1.2.1 Mã loạt dài 1.2.2 Mã xích 1.2.3 Mã tứ phân. 1.3 Các phương pháp phát hiện biên ảnh 1.3.1 Một số khái niệm 1.3.2 Kỹ thuật phát hiện biên trực tiếp 1.3.2.1 Phương pháp Gradient 1.3.2.2 Kỹ thuật phát hiện biên Laplace 1.3.2.3 Kỹ thuật phát hiện biên theo phương pháp Canny 1.3.3 Phát hiện biên gián tiếp 1.3.4 Phân vùng ảnh 1.3.4.1 Phân vùng ảnh theo ngưỡng biên độ 1.3.4.2 Phân vùng ảnh theo vùng đồng nhất 1.3.4.3 Phân vùng ảnh theo kết cấu bề mặt 1.4 Phương pháp trích chọn đặc trưng ảnh Khái niệm. Có thể hiểu trích chọn đặc trưng là quá trình rút trích các đặc trưng đại diện cho ảnh, được gọi là các chi tiết đặc trưng. Các chi tiết đặc trưng này yêu cầu phải có

6

thuộc tính là khả năng bảo toàn tính đặc thù để phân biệt có trong ảnh, đồng thời phải có tính cô đọng, hỗ trợ chặt chẽ cho quá trình đối sánh và ít bị tác động bởi nhiễu hoặc sai lệch trong ảnh. Ngoài ra, còn yêu cầu phải dễ tính toán. 1.4.1 Đặc trưng Haar-like. 1.4.2 Đặc trưng Histogram of Oriented Gradients (HOG) 1.5 Các phương pháp nhận dạng đối tượng

1.5.1 Phương pháp Neural Networks (NN) Mạng noron nhân tạo (Artifical Neural Networks) mô phỏng lại mạng noron sinh học là một cấu trúc khối gồm các đơn vị tính toán đơn giản được liên kết chặt chẽ với nhau trong đó các liên kết giữa các noron quyết định chức năng của mạng. Về cơ bản mạng Neural là một mạng các phần tử (gọi là neural) kết nối với nhau thông qua các liên kết (các liên kết này được gọi là trọng số liên kết) để thực hiện một công việc cụ thể nào đó. Khả năng xử lý của mạng neural được hình thành thông qua quá trình hiệu chỉnh trọng số liên kết giữa các neural, nói cách khác là học từ tập hợp các mẫu huấn luyện. Ưu điểm: – Dễ cài đặt cùng với khả năng học và tổng quát hoá rất cao.

7

– Tốc độ xử lý nhanh – Linh hoạt và dễ bảo trì: Nhược điểm: – Tính chậm và xác suất không cao không có quy tắc tổng quát để xác định cấu trúc mạng và các tham số học tối ưu cho một (lớp) bài toán nhất định. – Tiêu chuẩn thu thập cơ sở dữ liệu huấn luyện còn khắt khe. – Đòi hỏi thời gian xử lý cao với mạng một mạng Neural lớn.

1.5.2 Phương pháp Support Vector Machine (SVM) Cho trước một tập huấn luyện, các ảnh được biểu diễn dưới dạng vector. Trong không gian vector, mỗi vertor được biểu diễn bởi một điểm. Phương pháp SVM sẽ tìm một siêu phẳng quyết định để phân chia không gian vector thành hai lớp. Chất lượng của siêu phẳng này phụ thuộc vào khoảng cách giữa các vector, tức là phụ thuộc vào các đặc trưng của ảnh. Ưu điểm: – Cho kết quả nhận dạng với độ chính xác cao – Bài toán huấn luyện SVM thực chất là bài toán QP trên một tập lồi, do đó SVM luôn có nghiệm toàn cục và duy nhất, đây chính là điểm khác biệt rõ nhất giữa

8

SVM so với phương pháp mạng Neural, vì mạng Neural vốn tồn tại nhiều điểm cực trị địa phương. Nhược điểm:

– Hạn chế lớn nhất của SVM là tốc độ

phân lớp rất chậm, tùy thuộc vào số lượng các véc tơ hỗ trợ. – Giai đoạn huấn luyện SVM đòi hỏi bộ nhớ rất

lớn, do đó các bài toán huấn luyện với số lượng mẫu lớn sẽ gặp trở ngại trong vấn đề lưu trữ. Hiệu quả phân lớp của SVM phụ thuộc vào hai yếu tố: giải bài toán QP và lựa chọn hàm nhân. 1.5.3 Phương pháp Linear Discriminant Analysis Mục đích của LDA – Linear Discriminant

Analysis là tìm cách phân loại các đối tượng (người, sự vật,…) vào một trong hai hay nhiều lớp đã được xác định trước dựa vào các đặt trưng (feature) dùng để mô tả đối tượng (ví dụ như các đặc trưng dùng để mô tả đối tượng khách hàng là giới tính, tuổi, nghề nghiệp, thu nhập,…) Ưu điểm:

– Dễ dàng hơn để đào tạo, phương sai thấp,

hiệu quả hơn nếu mô hình là chính xác. – LDA làm việc tốt khi số mẫu là lớn.

9

Nhược điểm: – LDA gặp phải vấn đề khi tổng số mẫu huấn luyện ít hơn so với kích thước của không gian đặc trưng.

1.5.4 Phương pháp Naive Bayes (NB) Ý tưởng cơ bản của cách tiếp cận NB là sử dụng xác suất có điều kiện. Ưu điểm: Cho độ chính xác cao khi kết hợp với các phương pháp khác. Nhược điểm: – Chi phí thời gian để đếm mẫu – Phải kết hợp với các phương pháp khác

1.5.5 Phương pháp Principal Component Analysis PCA (Principal Component Analysis) là một thuật toán được sử dụng để tạo ra một ảnh mới từ ảnh ban đầu. Ảnh mới này có kích thước nhỏ hơn nhiều so với ảnh ban đầu nhưng vẫn mang những đặc trưng cơ bản nhất của ảnh cần nhận dạng. Nói một cách ngắn gọn, mục tiêu của PCA là tìm một không gian mới (với số chiều nhỏ hơn không gian cũ). Các trục tọa độ trong không gian mới được xây dựng sao cho trên mỗi trục, độ biến thiên của dữ liệu trên đó là lớn nhất có thể. Ưu điểm:

10

– Tìm được các đặc tính tiêu biểu của đối tượng cần nhận dạng mà không cần phải xác định các thành phần và mối quan hệ giữa các thành phần đó. – Thuật toán có thể thức hiện tốt với các ảnh có độ phân giải cao, do PCA sẽ thu gọn ảnh thành một ảnh có kích thước nhỏ hơn. – PCA có thể kết hợp với các phương pháp khác để mang lại hiệu quả nhận dạng cao hơn Nhược điểm: – PCA chỉ làm việc với dữ liệu numeric – PCA rất nhạy với nhiễu. – Không phù hợp với các mô hình phi tuyến do PCA hoàn toàn dựa trên các biến đổi tuyến tính. – Cài đặt thuật toán phức tạp Kết luận chương 1

11

Hình 2.1 Đặc trưng Haar-like cơ bản Đặc trưng haar-like được mở rộng ra và được chia thành 3 tập đặc trưng như sau:

12

(1). Đặc trưng theo cạnh

(2). Đặc trưng theo đường

(3). Đặc trưng xung quanh tâm Hinh 2.2 Đặc trưng Haar-like mở rộng Dựa theo các đặc trưng trên, giá trị của đặc trưng Haar-like: f(x) = Tổng

vùng đen(các

mức xám của pixel) –

Tổng vùng trắng(các mức xám của pixel) “Integral Image” (ảnh chia nhỏ) Integral Image tại vị trí (x,y) bằng tổng các giá trị điểm ảnh phía trên và bên trái của (x,y). Tổng các điểm ảnh trong một hình chữ nhật (kể cả trường hợp xoay 45º) bất kì đều có thể được tính nhanh dựa trên integral image tại 4 đỉnh của nó : Sum (D ) = 4 + 1 – (2 + 3)

P1

C

B

P2

P4

Hình 2.4 Ví dụ cách tính nhanh tổng các điểm ảnh của vùng D trên ảnh 2.5 Phát hiện biển báo giao thông 2.5.1 Tiếp cận Boosting Nguyên lý cơ bản của boosting là sự kết hợp các phân lớp yếu (weak classification) thành một phân lớp mạnh (strong classification). Trong đó, phân lớp yếu là các bộ phân loại đơn giản chỉ cần có độ chính xác trên 50%. Bằng cách này, chúng ta nói bộ phân loại đã được “boost”. 2.5.2 Thuật toán Adaboost Thuật toán AdaBoost tuân theo các bước sau: [4] 1. Cho một tập gồm n mẫu có đánh dấu (x1, y1), (x2, y2),… (xn, yn) với xk ∈ (xk1, xk2, … , xkm) là vector đặc trưng và yk ∈ (-1, 1) là nhãn của mẫu (1 ứng với object, -1 ứng với background). 2. Khởi tạo trọng số ban đầu cho tất cả các mẫu:

14

với m là số mẫu đúng (ứng với object và y = 1) và l là số mẫu sai (ứng với background và y = -1).

3. Xây dựng T phân loại yếu :  Lặp t = 1, …, T. Với mỗi đặc trưng trong vector đặc trưng, xây dựng một phân loại yếu hj với ngưỡng θj và n

lỗi εj.

 Chọn ra hj với εj nhỏ nhất, ta được ht:

ht : X  {1,  1}  Cập

wt 1,k

nhật

lại

trọng

số:

 Trong đó:  t 

Zt: Hệ số dùng để đưa Wt+1 về đoạn [0,1] (normalization factor) T

4. Phân loại mạnh được xây dựng : H ( x)  sign(  t ht ( x)) t 1

15

2.6 Nhận dạng biển báo giao thông 2.6.1 Phương pháp phân tích thành phần chính PCA 2.6.1.1 Giới thiệu phương pháp PCA. 2.6.1.2 Thuật toán PCA Mục tiêu của phương pháp PCA là “giảm số chiều” của 1 tập vector sao cho vẫn đảm bảo được “tối đa thông tin quan trọng nhất” Vector x ban đầu có N chiều

Không gian N chiều với hệ cơ sở v1, v2,…,vn

Ánh xạ tuyến tính T cần tìm (phép chiếu)

Vector y chỉ còn K chiều

Qcvn 41:2019/Bgtvt Về Biển Báo Giao Thông Đường Bộ / 2023

Quy chuẩn quốc gia về biển báo hiệu đường bộ mới nhất – Quy chuẩn 41:2019 của Bộ giao thông vận tải về biển báo giao thông đường bộ. “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ” có mã số đăng ký: QCVN 41 : 2019/BGTVT được ban hành theo Thông tư 54/2019/TT-BGTVT.

Thông tư 54/2019/TT-BGTVT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020 và thay thế Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08/4/2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2016/BGTVT.

Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ

Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008; Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6 năm 2006; Căn cứ Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủCăn cứ Nghị định số 67/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2009 của Chính phủCăn cứ Nghị định số 12/2017/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2017 của Chính phủTheo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khoa học – Công nghệ và Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ. quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải; sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ”.

Mã số đăng ký: QCVN 41:2019/BGTVT.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Lời nói đầu

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

MỤC LỤC

2. Thông tư này thay thế Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08/4/2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2016/BGTVT.

Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 41:2019/BGTVT do Tổng cục Đường bộ Việt Nam biên soạn, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành theo Thông tư số 54/2019/TT-BGTVT ngày 31 tháng 12 năm 2019. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 41:2019/BGTVT thay thế QCVN 41:2016/BGTVT.

Quy chuẩn về biển báo giao thông

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chuẩn này quy định về hệ thống báo hiệu đường bộ, bao gồm: hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, tín hiệu đèn giao thông, chiếu sáng, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, tường bảo vệ và rào chắn, cột kilômét, cọc H, mốc lộ giới, gương cầu lồi, dải phân cách và các thiết bị an toàn giao thông khác.

Quy chuẩn này quy định về hệ thống báo hiệu áp dụng cho tất cả các tuyến đường bộ trong mạng lưới đường bộ Việt Nam bao gồm: đường cao tốc, đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng và các đường nằm trong hệ thống đường bộ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Hiệp định GMS-CBTA, các thỏa thuận trong ASEAN và các thỏa thuận quốc tế khác) – sau đây gọi là các tuyến đường đối ngoại.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Điều 3. Giải thích từ ngữ

3.1. Đường đô thị (ĐĐT) là đường nằm trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị xã và thị trấn.

3.2. Đường qua khu đông dân cư là đoạn đường bộ nằm trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, nội thị trấn và những đoạn đường có dân cư sinh sống sát dọc theo đường, có các hoạt động có thể ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ và được xác định bằng biển báo là đường qua khu đông dân cư (khi cần thiết có thể xác định riêng cho từng chiều đường).

3.3. Đường dành riêng cho các loại phương tiện cơ giới là tuyến đường, phần đường hoặc làn đường dành riêng cho phương tiện cơ giới lưu thông, tách biệt với phần đường dành riêng cho các phương tiện thô sơ và người đi bộ bằng dải phân cách hoặc vạch sơn dọc liền và được chỉ dẫn bằng biển báo hiệu hoặc vạch sơn.

3.4. Đường dành riêng cho một số loại phương tiện là tuyến đường, phần đường hoặc làn đường dành riêng cho một hoặc một vài loại phương tiện được lưu thông tách biệt với phần đường cho các phương tiện khác và được chỉ dẫn bằng biển báo hiệu hoặc vạch sơn.

3.5. Đường dành riêng cho các phương tiện thô sơ và người đi bộ là tuyến đường, phần đường hoặc làn đường được phân biệt với phần đường dành riêng cho phương tiện cơ giới bằng các dải phân cách hoặc vạch sơn dọc liền.

3.6. Đường ưu tiên là đường mà trên đó phương tiện tham gia giao thông được các phương tiện giao thông đến từ hướng khác nhường đường khi qua nơi đường giao nhau, được đặt biển báo hiệu đường ưu tiên.

3.7. Làn đường ưu tiên là làn đường mà trên đó phương tiện tham gia giao thông được quy định là ưu tiên sẽ được các phương tiện khác nhường đường khi cùng tham gia giao thông.

3.8. Đường không ưu tiên là đường giao cùng mức với đường ưu tiên.

3.9. Đường một chiều là đường chỉ cho đi một chiều.

3.10. Đường hai chiều là đường dùng chung cho cả chiều đi và về trên cùng một phần đường xe chạy mà không có dải phân cách.

3.11. Đường đôi là đường mà chiều đi và về được phân biệt bằng dải phân cách (trường hợp phân biệt bằng vạch sơn thì không phải đường đôi).

3.12. Phần đường xe chạy là phần của đường bộ được sử dụng cho phương tiện giao thông qua lại.

3.13. Phần đường dành cho xe cơ giới là phần của đường bộ được sử dụng cho các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và xe máy chuyên dùng qua lại.

3.14. Phần đường dành cho xe thô sơ là phần của đường bộ được sử dụng cho các phương tiện giao thông thô sơ đường bộ qua lại.

3.15. Làn đường là một phần của phần đường xe chạy được chia theo chiều dọc của đường, có đủ bề rộng cho xe chạy an toàn. Một phần đường xe chạy có thể có một hoặc nhiều làn đường.

3.16. Dải phân cách là bộ phận của đường mà xe không chạy trên đó được và để phân chia phần đường xe chạy thành hai chiều xe chạy riêng biệt hoặc để phân chia phần đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ hoặc của nhiều loại xe khác nhau trên cùng một chiều giao thông.

3.17. Nơi đường giao nhau cùng mức (nơi đường giao nhau hoặc nút giao) là nơi hai hay nhiều đường bộ gặp nhau trên cùng một mặt phẳng, gồm cả mặt bằng hình thành vị trí giao nhau đó.

3.18. Xe cơ giới là chỉ các loại xe ô tô; máy kéo; rơ-moóc hoặc sơ-mi rơ-moóc được kéo bởi xe ôtô; xe máy 2 bánh; xe máy 3 bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự được thiết kế để chở người và hàng hóa trên đường bộ. Xe cơ giới bao gồm cả tàu điện bánh lốp (là loại tàu dùng điện nhưng không chạy trên đường ray).

3.19. Trọng tải bản thân xe là khối lượng bản thân của xe, đo bằng kilôgam (kg) hoặc tấn (t) ở trạng thái tĩnh được ghi theo thông số quy định trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không kể đến khối lượng người trong xe và khối lượng hàng hóa trên xe.

3.20. Trọng tải toàn bộ xe (tổng trọng tải) là bằng khối lượng bản thân xe cộng với khối lượng của người, hành lý và hàng hóa xếp trên xe (nếu có).

3.21. Trọng tải toàn bộ xe cho phép là bằng trọng tải bản thân xe cộng với khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

3.22. Tải trọng trục xe là phần của trọng tải toàn bộ xe phân bổ trên mỗi trục xe (trục đơn, cụm trục kép, cụm trục ba).

3.23. Xe ô tô con (hay còn gọi là xe con) là xe ô tô được xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, để chở người không quá 9 chỗ ngồi (kể cả chỗ người lái).

3.24. Xe bán tải (xe pickup), xe tải VAN có khối lượng hàng chuyên chở cho phép tham gia giao thông dưới 950 kg, xe 3 bánh có khối lượng bản thân lớn hơn 400 kg, trong tổ chức giao thông, được xem là xe con.

3.25. Ô tô tải (hay còn gọi là xe tải) là xe ô tô có kết cấu và trang bị chủ yếu để chuyên chở hàng hóa (bao gồm cả ô tô đầu kéo, ô tô kéo rơ moóc và các loại xe như xe PICK UP, xe tải VAN có khối lượng hàng chuyên chở cho phép tham gia giao thông từ 950 kg trở lên).

3.26. Ô tô khách (hay còn gọi là xe khách) là xe ô tô được xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ để chở người với số lượng lớn hơn 9 người.

3.27. Ô tô đầu kéo kéo sơ-mi rơ-moóc là xe cơ giới chuyên chở hàng hóa mà thùng xe là sơ-mi rơ-moóc được thiết kế nối với ô tô đầu kéo và truyền một phần trọng lượng đáng kể lên ô tô đầu kéo và ô tô đầu kéo không có bộ phận chở hàng hóa hoặc chở người (ô tô đầu kéo là ôtô được thiết kế để kéo sơ-mi rơ-moóc).

3.28. Ô tô kéo rơ-moóc là xe ô tô được thiết kế để dành riêng kéo rơ-moóc hoặc là xe có kết cấu để kéo thêm rơ-moóc, có khối lượng cho phép kéo theo được xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

3.29. Rơ-moóc là tổng hợp gồm hệ thống trục và lốp xe có kết cấu vững chắc được kết nối với xe ô tô sao cho khối lượng toàn bộ của rơ moóc không đặt lên ô tô kéo.

3.30. Máy kéo là chỉ đầu máy tự di chuyển bằng xích hay bánh lốp để thực hiện các công việc đào, xúc, nâng, ủi, gạt, kéo, đẩy.

3.31. Xe mô tô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy lanh từ 50 cm 3 trở lên, trọng tải bản thân xe không quá 400 kg.

3.32. Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương dưới 50 cm 3.

3.33. Xe thô sơ gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy, xe đạp điện), xe xích lô, xe súc vật kéo, xe lăn dùng cho người khuyết tật và các loại xe tương tự không sử dụng động cơ gây ra sức kéo.

3.34. Xe đạp là phương tiện có hai bánh xe hoặc ba bánh và di chuyển được bằng sức người đạp hoặc bằng tay quay, kể cả xe chuyên dùng của người khuyết tật có tính năng tương tự.

3.35. Xe đạp thồ là xe đạp chở hàng trên giá đèo hàng hoặc chằng buộc hai bên thành xe.

3.36. Xe người kéo là những loại phương tiện thô sơ có một hoặc nhiều bánh và chuyển động được nhờ sức người kéo hoặc đẩy trừ xe nôi trẻ em và phương tiện chuyên dùng đi lại của người tàn tật.

3.37. Xe súc vật kéo là những phương tiện thô sơ chuyển động được do súc vật kéo.

3.38. Người tham gia giao thông là người điều khiển; người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường.

3.39. Xe ưu tiên là xe được quyền ưu tiên theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.

3.40. Mốc lộ giới là cọc mốc được đặt ở mép ngoài cùng xác định ranh giới của đất dành cho đường bộ theo chiều ngang đường.

3.41. Giá long môn là một dạng kết cấu ngang qua đường ở phía trên phần đường xe chạy.

3.42. Cột cần vươn là một dạng kết cấu có cần vươn ra phía trên phần đường xe chạy.

3.43. Hàng nguy hiểm là hàng nguy hiểm là hàng hóa có chứa các chất nguy hiểm khi chở trên đường có khả năng gây nguy hại tới tính mạng, sức khỏe con người, kết cấu hạ tầng công trình giao thông, môi trường, an toàn và an ninh quốc gia.

3.44. Tốc độ vận hành là tốc độ mà người lái vận hành chiếc xe của mình.

3.45. Tốc độ thiết kế là tốc độ được lựa chọn để thiết kế các yếu tố cơ bản của đường trong các điều kiện khó khăn.

3.46. Tốc độ suất tích lũy 85% (V85) là tốc độ vận hành mà ở đó 85% các lái xe vận hành xe chạy từ tốc độ này trở xuống.

3.47. Tốc độ tối đa cho phép là tốc độ lớn nhất trên một tuyến đường, đoạn đường hoặc làn đường được cấp có thẩm quyền quy định. Người điều khiển phương tiện không được phép vận hành xe ở tốc độ cao hơn.

3.48. Tốc độ tối thiểu cho phép là tốc độ nhỏ nhất trên một tuyến đường, đoạn đường hoặc làn đường được cấp có thẩm quyền quy định. Người điều khiển phương tiện không được phép vận hành xe ở tốc độ nhỏ hơn khi có điều kiện giao thông đảm bảo an toàn cho phép xe chạy với tốc độ cao hơn.

3.49. Tầm nhìn là khoảng cách đo dọc theo mặt đường tính từ mũi xe của một chiếc xe đang chạy đến một vật thể ở phía trước.

3.50. Tầm nhìn dừng xe an toàn là khoảng cách đo dọc theo đường tính từ mũi xe để một chiếc xe đang chạy có thể dừng lại an toàn trước một vật thể tĩnh bất ngờ xuất hiện trên cùng một làn đường ở phía trước.

3.51. Tầm nhìn vượt xe an toàn là khoảng cách đo dọc theo mặt đường tính từ mũi xe để một chiếc xe đang chạy trên đường 2 làn xe hai chiều có thể vượt qua một chiếc xe khác chạy chậm hơn cùng chiều bằng cách chiếm dụng làn xe chạy phía chiều ngược lại và quay trở về làn cũ của mình một cách an toàn.

3.52. Vượt xe là tình huống giao thông mà xe đi sau vượt xe đi trước; khi vượt, các xe phải vượt về bên trái (trừ các trường hợp được quy định trong Luật Giao thông đường bộ). Xe đi với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải, khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về phần đường bên phải của phần xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

3.53. Xe trên các làn chạy nhanh hơn nhau: Trên đường có từ hai làn xe cơ giới mỗi chiều trở lên (được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường), người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường. Khi lưu thông, phương tiện trên các làn khác nhau có thể chạy nhanh hơn nhau miễn là tuân thủ quy định về tốc độ và loại phương tiện sử dụng làn đường và khi chuyển làn phải tuân thủ theo quy tắc giao thông đường bộ.

3.54. Nhường đường cho phương tiện khác là tình huống giao thông mà phương tiện nhường đường không tiếp tục di chuyển như hiện tại để phương tiện được nhường đường không phải chuyển hướng hoặc phải phanh đột ngột.

3.55. Nút giao khác mức liên thông là nơi giao nhau của đường bộ bằng tổ hợp các công trình vượt hoặc chui và nhánh nối mà ở đó cho phép các phương tiện tham gia giao thông chuyển hướng đến đường ở các cao độ khác nhau.

3.56. Nhánh nối là đường dùng để kết nối các hướng đường trong nút giao.

3.57. Lối ra là nơi các phương tiện tham gia giao thông tách ra khỏi dòng giao thông trên đường chính.

3.58. Lối vào là nơi các phương tiện tham gia giao thông nhập vào dòng giao thông trên đường chính.

PHẦN 2: QUY ĐỊNH KỸ THUẬT

CHƯƠNG 1. THỨ TỰ HIỆU LỰC CỦA HỆ THỐNG BÁO HIỆU VÀ THỨ TỰ ĐƯỜNG ƯU TIÊN

Điều 4. Thứ tự hiệu lực của hệ thống báo hiệu

4.1. Khi đồng thời bố trí các hình thức báo hiệu có ý nghĩa khác nhau cùng ở một khu vực, người tham gia giao thông phải chấp hành loại hiệu lệnh theo thứ tự như sau:

4.1.1. Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông;

4.1.2. Hiệu lệnh của đèn tín hiệu;

4.1.3. Hiệu lệnh của biển báo hiệu;

4.1.4. Hiệu lệnh của vạch kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường.

4.2. Khi ở một vị trí đã có biển báo hiệu đặt cố định lại có biển báo hiệu khác đặt có tính chất tạm thời mà hai biển có ý nghĩa khác nhau thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu có tính chất tạm thời. Biển có tính chất tạm thời là biển sử dụng mang tính tình huống nhằm tổ chức điều khiển giao thông có tính chất ngắn hạn như trong các sự kiện, sự cố giao thông hay sử dụng trong quá trình thi công hoặc sửa chữa đường.

Điều 5. Thứ tự đường ưu tiên

5.1. Quy định về thứ tự đường ưu tiên như sau:

– Đường cao tốc;

– Quốc lộ;

– Đường đô thị;

– Đường tỉnh;

– Đường huyện;

– Đường xã;

– Đường chuyên dùng.

5.2. Nếu hai đường cùng thứ tự, giao nhau cùng mức, việc xác định đường nào là đường ưu tiên được xem xét lần lượt theo quy định sau:

5.2.1. Được cấp có thẩm quyền quy định là đường ưu tiên;

5.2.2. Đường có cấp kỹ thuật cao hơn thì được ưu tiên;

5.2.3. Khi lưu lượng xe khác nhau, đường có lưu lượng xe trung bình ngày đêm lớn hơn thì được ưu tiên;

5.2.4. Khi lưu lượng xe trung bình ngày đêm bằng nhau, đường có nhiều xe ô tô vận tải công cộng lớn hơn thì được ưu tiên;

5.2.5. Đường nào có mặt đường cấp cao hơn thì được ưu tiên.

5.3. Không được quy định cả hai đường giao nhau cùng mức cùng đồng thời là đường ưu tiên.

CHƯƠNG 2. HIỆU LỆNH ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔNG

Điều 6. Các phương pháp điều khiển giao thông

6.1. Các phương tiện điều khiển giao thông:

6.1.1. Bằng tay;

6.1.2. Bằng cờ;

6.1.3. Bằng gậy điều khiển giao thông có màu đen trắng xen kẽ (có đèn hoặc không có đèn ở bên trong);

6.1.4. Bằng đèn tín hiệu ánh sáng.

6.2. Phương pháp chỉ huy giao thông:

6.2.1. Người điều khiển;

6.2.2. Bằng hệ thống tín hiệu ánh sáng tự động.

Điều 7. Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông

7.1. Hiệu lệnh của người điều khiển được thể hiện bằng tay, cờ, gậy hoặc đèn tín hiệu ánh sáng điều khiển giao thông. Để thu hút sự chú ý của người tham gia giao thông, người điều khiển giao thông ngoài sử dụng các phương pháp nêu trên còn dùng thêm còi.

7.2. Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông:

7.2.1. Tay giơ thẳng đứng để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở các hướng đều phải dừng lại;

7.2.2. Hai tay hoặc một tay dang ngang để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở phía trước và ở phía sau người điều khiển phải dừng lại; người tham gia giao thông ở phía bên phải và bên trái người điều khiển được đi tất cả các hướng; cánh tay trái người điều khiển gập đi gập lại sau gáy để báo hiệu người tham gia giao thông bên trái người điều khiển đi nhanh hơn hoặc cánh tay phải người điều khiển gập đi gập lại trước ngực để báo hiệu người tham gia giao thông bên phải người điều khiển đi nhanh hơn; bàn tay trái hoặc phải của người điều khiển ở vị trí ngang thắt lưng và đưa lên, xuống báo hiệu người tham gia giao thông ở bên trái hoặc bên phải người điều khiển đi chậm lại; bàn tay trái hoặc phải của người điều khiển giơ thẳng đứng vuông góc với mặt đất báo hiệu người tham gia giao thông ở bên trái hoặc bên phải người điều khiển dừng lại;

7.2.3. Tay phải giơ về phía trước để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở phía sau và bên phải người điều khiển dừng lại; người tham gia giao thông ở phía trước người điều khiển được rẽ phải; người tham gia giao thông ở phía bên trái người điều khiển được đi tất cả các hướng; người đi bộ qua đường phía sau lưng người điều khiển giao thông được phép đi; đồng thời tay trái giơ về phía trước lặp đi lặp lại nhiều lần, song song với tay phải báo hiệu người tham gia giao thông ở phía bên trái người điều khiển được rẽ trái qua trước mặt người điều khiển.

7.3. Quy định về việc sử dụng âm hiệu còi trong điều khiển giao thông của cảnh sát điều khiển giao thông như sau:

7.3.1. Một tiếng còi dài, mạnh là ra lệnh dừng lại;

7.3.2. Một tiếng còi ngắn là cho phép đi;

7.3.3. Một tiếng còi dài và một tiếng còi ngắn là cho phép rẽ trái;

7.3.4. Hai tiếng còi ngắn, thổi mạnh là ra hiệu nguy hiểm đi chậm lại;

7.3.5. Ba tiếng còi ngắn thổi nhanh là báo hiệu đi nhanh lên;

7.3.6. Thổi liên tiếp tiếng một, nhiều lần, mạnh là báo hiệu phương tiện dừng lại để kiểm tra hoặc báo hiệu phương tiện vi phạm.

7.4. Quy định về việc sử dụng ánh sáng trong hiệu lệnh dừng xe của người điều khiển giao thông như sau: cầm đèn ánh sáng có mặt đỏ giơ cao hướng về phía phương tiện đang chạy tới.

7.5. Trường hợp khi có tín hiệu hoặc hiệu lệnh phải dừng lại, nếu đã đi vượt qua vạch dừng tại các nơi đường giao nhau mà dừng lại sẽ gây mất an toàn giao thông thì được phép đi tiếp; người đi bộ còn đang đi ở lòng đường thì nhanh chóng đi hết hoặc dừng lại ở đảo an toàn, nếu không có đảo thì dừng lại ở vạch phân chia hai dòng phương tiện giao thông đi ngược chiều.

7.6. Trường hợp người điều khiển chỉ gậy chỉ huy giao thông vào hướng xe nào thì xe ở hướng đó phải dừng lại.

Điều 8. Hiệu lực của người điều khiển giao thông

Người tham gia giao thông đều phải chấp hành nghiêm chỉnh hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, kể cả trong trường hợp hiệu lệnh trái với tín hiệu của đèn điều khiển giao thông, biển báo hiệu hoặc vạch kẻ đường.

Điều 9. Người điều khiển giao thông

Người điều khiển giao thông là cảnh sát giao thông mặc sắc phục theo quy định; người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông.

Điều 10. Điều khiển giao thông bằng tín hiệu đèn

10.1. Đèn tín hiệu chính điều khiển giao thông được áp dụng ba loại màu tín hiệu: xanh, vàng và đỏ; chủ yếu có dạng hình tròn, lắp theo chiều thẳng đứng hoặc nằm ngang.

10.1.1. Thứ tự tín hiệu lắp theo chiều thẳng đứng: đèn đỏ ở trên, đèn vàng ở giữa và đèn xanh ở dưới.

10.1.2. Thứ tự tín hiệu lắp đặt theo chiều ngang: đèn đỏ ở phía bên trái, đèn vàng ở giữa và đèn xanh ở phía bên phải theo chiều lưu thông.

10.2. Đèn tín hiệu ngoài ba dạng đèn chính còn được bổ sung một số đèn khác tùy thuộc vào quy mô nút giao và tổ chức giao thông.

10.2.1. Đèn có hình mũi tên hoặc các hình có ký hiệu phù hợp với quy định của Quy chuẩn này, được lắp đặt trên mặt phẳng ngang với đèn tín hiệu. Các hình trên đèn có thể là hình một loại phương tiện giao thông hoặc hình người đi bộ.

10.2.2. Trong từng tín hiệu của đèn có thể có hình mũi tên. Nếu mũi tên chỉ hướng cho phép rẽ trái thì đồng thời cho phép quay đầu, trừ khi có đặt biển báo số P.124 (a,b) “Cấm quay đầu xe”.

10.2.3. Đồng hồ đếm ngược (khi đang hoạt động bình thường) có tác dụng báo hiệu thời gian có hiệu lực của đèn.

10.2.4. Đèn tín hiệu có hình chữ thập màu đỏ báo hiệu xe phải dừng lại. Trong trường hợp xe đã ở trong nút giao thì phải nhanh chóng đi ra khỏi nút giao.

10.3. Ý nghĩa của đèn tín hiệu:

10.3.1. Tín hiệu xanh: cho phép đi.

10.3.2.Tín hiệu vàng báo hiệu thay đổi tín hiệu của đèn xanh sang đỏ. Tín hiệu vàng bật sáng, phải dừng lại trước vạch dừng, trường hợp đã đi quá vạch dừng hoặc đã quá gần vạch dừng nếu dừng lại thấy nguy hiểm thì được đi tiếp.

Trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường hoặc các phương tiện khác theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.

10.3.3. Tín hiệu đỏ: báo hiệu phải dừng lại trước vạch dừng. Nếu không có vạch dừng thì phải dừng trước đèn tín hiệu theo chiều đi.

10.3.4. Trường hợp không có vạch dừng, thì vị trí đặt đèn tín hiệu gần nhất theo chiều đi coi như là vạch dừng.

10.3.5. Tại một thời điểm, trên cùng một bộ đèn tín hiệu chỉ được sáng một trong ba màu: xanh, vàng hoặc đỏ.

10.4. Ý nghĩa của đèn hình mũi tên:

10.4.1. Nếu đèn có lắp đèn hình mũi tên màu xanh thì các loại phương tiện giao thông chỉ được đi khi tín hiệu mũi tên bật sáng cho phép. Tín hiệu mũi tên cho phép rẽ trái thì đồng thời cho phép quay đầu nếu không có báo hiệu cấm quay đầu khác.

10.4.2. Nếu đèn có hình của một loại phương tiện giao thông nào đó xanh thì chỉ loại phương tiện đó được phép đi.

10.4.3. Khi tín hiệu mũi tên màu xanh được bật sáng cùng một lúc với tín hiệu đỏ hoặc vàng thì các phương tiện đi theo hướng mũi tên nhưng phải nhường đường cho các loại phương tiện đi từ các hướng khác đang được phép đi.

10.4.4. Khi tín hiệu mũi tên màu đỏ được bật sáng cùng lúc với tín hiệu đèn chính màu xanh thì phương tiện không được đi theo hướng mũi tên. Những nơi bố trí mũi tên màu đỏ cần bố trí làn chờ cho các xe đi hướng đang có đèn màu đỏ.

10.4.5. Khi tín hiệu màu đỏ có hình của một loại phương tiện nào đó bật sáng cùng lúc với tín hiệu đèn chính màu xanh thì loại phương tiện đó không được đi. Những nơi có bố trí đèn hình phương tiện màu đỏ thì cần bố trí làn chờ cho phương tiện đó.

10.5. Điều khiển giao thông bằng loại đèn hai màu:

10.5.1. Điều khiển giao thông đối với người đi bộ bằng loại đèn hai màu: khi tín hiệu màu đỏ có tín hiệu hình người tư thế đứng hoặc chữ viết “Dừng lại”; khi tín hiệu màu xanh, có hình người tư thế đi hoặc chữ viết “Đi”.

Người đi bộ chỉ được phép đi qua đường khi tín hiệu đèn xanh bật sáng và đi trong hàng đinh gắn trên mặt đường hoặc vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường. Tín hiệu đèn xanh nhấp nháy báo hiệu chuẩn bị chuyển sang tín hiệu màu đỏ; người đi bộ lúc này không được bắt đầu đi ngang qua đường.

10.5.2. Loại đèn hai màu xanh và đỏ không nhấp nháy dùng để điều khiển giao thông ở những nơi giao nhau với đường sắt, bến phà, cầu cất, dải cho máy bay lên xuống ở độ cao không lớn v.v… Đèn xanh bật sáng: cho phép các phương tiện giao thông được đi. Đèn đỏ bật sáng: cấm đi. Hai đèn xanh và đỏ không được cùng bật sáng một lúc.

10.5.3. Loại đèn đỏ hai bên thay nhau nhấp nháy nơi giao nhau với đường sắt, khi bật sáng thì mọi phương tiện phải dừng lại và chỉ được đi khi đèn tắt. Ngoài ra để gây chú ý, ngoài đèn đỏ nhấp nháy còn trang bị thêm chuông điện hoặc tiếng nói nhắc nhở có tàu hỏa.

10.6. Để điều khiển giao thông trên từng làn đường riêng có thể áp dụng bộ đèn tín hiệu gồm 2 màu treo trên phần đường xe chạy, tín hiệu xanh có hình mũi tên phải đặt phía trên làn đường cần điều khiển, tín hiệu đỏ có hình hai gạch chéo. Những tín hiệu của đèn này có ý nghĩa như sau:

10.6.1. Tín hiệu xanh cho phép đi ở trên làn đường có mũi tên chỉ;

10.6.2. Tín hiệu đỏ phải dừng lại theo điểm 10.3.3 khoản 10.3 Điều này trên làn đường có đèn treo tín hiệu màu đỏ.

Điều 11. Xe ưu tiên và tín hiệu của xe ưu tiên

11.1. Những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự:

11.1.1. Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ;

11.1.2. Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp; đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường;

11.1.3. Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu;

11.1.4. Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật;

11.1.5. Đoàn xe tang.

11.2. Xe quy định tại các điểm từ 11.1.1 đến 11.1.4 của khoản 11.1 Điều này khi làm nhiệm vụ có tín hiệu theo quy định không bị hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông.

11.3. Tín hiệu của xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ:

11.3.1. Xe chữa cháy có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu đỏ hoặc xanh gắn trên nóc xe và có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.4. Tín hiệu của xe quân sự đi làm nhiệm vụ khẩn cấp:

11.4.1. Xe ô tô có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu đỏ gắn trên nóc xe, cờ hiệu quân sự đặt ở đầu xe phía bên trái người lái; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.4.2. Xe máy có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu đỏ gắn ở càng xe phía trước hoặc phía sau; cờ hiệu quân sự đặt ở đầu xe; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.5. Tín hiệu của xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp:

11.5.1. Xe ô tô có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu xanh hoặc đỏ gắn trên nóc xe, cờ hiệu công an đặt ở đầu xe phía bên trái người lái; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.5.2. Xe máy có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu xanh hoặc đỏ gắn ở càng xe phía trước hoặc phía sau, cờ hiệu công an đặt ở đầu xe; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.6. Tín hiệu của xe cảnh sát giao thông dẫn đường:

11.6.1. Xe ô tô có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu xanh – đỏ gắn trên nóc xe, cờ hiệu Công an đặt ở đầu xe phía bên trái người lái; có còi phát tín hiệu ưu tiên;

11.6.2. Xe máy có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu xanh hoặc đỏ gắn ở càng xe phía trước hoặc phía sau; cờ hiệu công an đặt ở đầu xe; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.7. Tín hiệu của xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu

Xe cứu thương có đèn quay hoặc đèn chớp phát sáng màu đỏ gắn trên nóc xe; có còi phát tín hiệu ưu tiên.

11.8. Tín hiệu của xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật.

11.8.1. Xe làm nhiệm vụ cứu hộ đê có cờ hiệu “HỘ ĐÊ” đặt ở đầu xe phía bên trái người lái.

11.8.2. Xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật thực hiện như sau:

a) Xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh, có biển hiệu riêng.

b) Xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật có cờ hiệu “TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP” đặt ở đầu xe phía bên trái người lái.

11.9. Sử dụng tín hiệu của xe ưu tiên:

11.9.1. Xe được quyền ưu tiên chỉ được sử dụng tín hiệu ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ và thiết bị phát tín hiệu ưu tiên trên xe phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép sử dụng.

11.9.2. Các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không thuộc loại xe được quyền ưu tiên thì không được lắp đặt, sử dụng còi, cờ, đèn phát tín hiệu ưu tiên. Xe được quyền ưu tiên phải lắp đặt, sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn ưu tiên theo quy định tại các khoản 11.3, 11.4, 11.5, 11.6, 11.7 và khoản 11.8 của Điều này.

11.10. Khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.

Điều 12. Hiệu lực của đèn tín hiệu

Ở nơi đường giao nhau vừa có đèn tín hiệu vừa có biển báo hiệu và vạch sơn thì lái xe phải tuân theo hiệu lệnh của đèn tín hiệu. Trong trường hợp không sử dụng đèn tín hiệu để điều khiển giao thông theo từng làn đường riêng thì tín hiệu đèn có tác dụng cho toàn bộ phần đường xe chạy theo hướng xe đến. Trong trường hợp đèn tín hiệu tắt hoặc có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy thì lái xe phải tuân theo biển báo hiệu và vạch sơn theo thứ tự hiệu lực đã quy định.

Điều 13. Vị trí và độ cao đặt đèn tín hiệu

13.1. Mặt đèn quay về hướng đi của người tham gia giao thông.

13.2. Khi đèn bố trí theo chiều thẳng đứng trên cột đặt trên lề đường, dải phân cách, đảo giao thông: chiều cao vị trí thấp nhất của đèn từ 1,7m đến 5,8m, khoảng cách từ bộ đèn đến mép phần đường xe chạy từ 0,5 đến 2m.

13.3. Khi đèn được đặt theo chiều ngang trên cần vươn thì chiều cao tối thiểu là 5,2 m, tối đa là 7,8m tính từ điểm thấp nhất của đèn đến mặt đường hoặc mặt vỉa hè;

13.4. Đèn được bố trí sao cho người tham gia giao thông nhìn thấy được từ xa đủ để giảm tốc độ và dừng xe được an toàn. Trong một số trường hợp có thể cho phép kết hợp đặt đèn trên cột điện hoặc những vật kiến trúc nhưng phải đảm bảo những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt đèn về vị trí, độ cao, khoảng cách nhìn thấy đèn theo Quy chuẩn này và đảm bảo thẩm mỹ.

13.5. Đèn tín hiệu đặt trên từng nhánh đường ngay trước nút giao theo chiều đi; Tùy từng trường hợp, có thể bổ sung đèn tín hiệu trên cột cần vươn hoặc giá long môn phía bên kia nút giao theo chiều đi để nhắc lại và thuận tiện cho việc quan sát.

13.6. Ở trong khu đông dân cư, khu đô thị có đường chật hẹp, đèn có thể bố trí trên thân cột thẳng đứng đặt bên đường về phía tay phải của chiều đường theo quy định tại điểm 13.3.1 khoản 13.3 Điều này ngay trước vạch dừng.

13.7. Độ lớn (kích thước) và độ sáng của đèn tín hiệu phải được thiết kế phù hợp với điều kiện khai thác đặc biệt phải nhìn thấy được trong điều kiện người tham gia giao thông bị ngược ánh sáng mặt trời.

Điều 14. Kích thước, hình dạng và các quy định khác của đèn tín hiệu

Kích thước, hình dạng và các quy định khác của đèn tín hiệu tham khảo ở Phụ lục A của Quy chuẩn này.

CHƯƠNG 3. BIỂN BÁO HIỆU

Điều 15. Phân loại biển báo hiệu

Biển báo hiệu đường bộ trong Quy chuẩn này được chia thành 5 nhóm cơ bản sau đây: biển báo cấm; biển hiệu lệnh; biển báo nguy hiểm và cảnh báo; biển chỉ dẫn; biển phụ, biển viết bằng chữ.

Biển báo hiệu trên đường cao tốc và đường đối ngoại phải phù hợp với các quy định nêu tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

15.1. Nhóm biển báo cấm là nhóm biển biểu thị các điều cấm mà người tham gia giao thông không được vi phạm. Biển báo cấm chủ yếu có dạng hình tròn, viền đỏ, nền màu trắng, trên nền có hình vẽ hoặc chữ số, chữ viết màu đen thể hiện điều cấm, trừ một số trường hợp đặc biệt.

15.2. Nhóm biển hiệu lệnh là nhóm biển để báo các hiệu lệnh phải chấp hành. Người tham gia giao thông phải chấp hành các hiệu lệnh trên biển báo (trừ một số biển đặc biệt). Các biển có dạng hình tròn trên nền xanh lam có hình vẽ màu trắng đặc trưng cho hiệu lệnh nhằm báo cho người tham gia giao thông đường biết.

15.3. Nhóm biển báo nguy hiểm và cảnh báo là nhóm biển báo cho người tham gia giao thông biết trước các nguy hiểm trên đường để chủ động phòng ngừa kịp thời. Biển chủ yếu có hình tam giác đều, viền đỏ, nền màu vàng, trên có hình vẽ màu đen mô tả sự việc cần báo hiệu.

15.4. Nhóm biển chỉ dẫn là nhóm biển báo dùng để cung cấp thông tin và các chỉ dẫn cần thiết cho người tham gia giao thông. Biển chỉ dẫn chủ yếu có hình chữ nhật hoặc hình vuông hoặc hình mũi tên, nền màu xanh.

15.5. Nhóm biển phụ, biển viết bằng chữ là nhóm biển nhằm thuyết minh bổ sung nội dung nhóm biển tại khoản 15.1, 15.2, 15.3, 15.4 Điều này hoặc được sử dụng độc lập.

Điều 16. Kích thước của biển báo

16.1. Quy chuẩn này quy định các thông số về kích thước biển, hình vẽ trong biển và chữ viết tương ứng với đường đô thị có hệ số là 1 (xem Hình 1 và Bảng 1). Trường hợp đặc biệt, kích thước biển có thể được điều chỉnh để đảm bảo cân đối, đáp ứng tính thẩm mỹ và rõ ràng thông tin.

16.2. Đối với các đường khác, kích thước biển, hình vẽ trong biển và chữ viết phải nhân với hệ số tương ứng trong Bảng 2, kích thước biển được làm tròn theo nguyên tắc:

Văn bản pháp luật này thuộc lĩnh vực Giao thông đường bộ được chúng tôi cập nhật và đăng tải, mời các bạn sử dụng file tải về để lưu làm tài liệu sử dụng.

a) Số hàng đơn vị ≤ 5 thì lấy bằng 5;

……………………………………

Các Biển Báo Giao Thông Đường Bộ / 2023

Các biển báo giao thông đường bộ

Biển báo giao thông đường bộ hay còn được gọi là hệ thống báo hiệu đường bộ là hệ thống rất nhiều biển báo giao thông cung cấp thông tin cụ thể cho người tham gia giao thông và được chia thành 6 nhóm chính như sau:

Các biển báo cấm

Có dạng hình tròn, viền đỏ, nền trắng, hình vẽ màu đen.

Tác dụng: Đây là loại biển báo giao thông để biểu thị các điều cấm. Người tham gia giao thông phải chấp hành các điều đã được báo trên biển. Nhóm biển báo cấm gồm 39 kiểu, bao gồm các biển báo giao thông được đánh số từ 101 đến 139.

Các biển báo nguy hiểm

Có dạng hình tam giác đều, viền đỏ, nền vàng, hình vẽ màu đen.

Tác dụng: Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra được dùng để báo cho người sử dụng đường, chủ yếu là người lái xe cơ giới biết được tính chất của sự nguy hiểm trên tuyến đường phía trước để phòng ngừa. Khi gặp biển báo nguy hiểm người lái xe phải giảm tốc độ.

Các biển báo hiệu lệnh

Nhóm biển báo giao thông có dạng hình tròn, nền xanh với hình vẽ màu trắng.

Loại biển báo giao thông đường bộ này nhằm báo các hiệu lệnh cho người tham gia giao thông thi hành theo. Biển báo hiệu lệnh gồm 10 kiểu và được đánh thứ tự từ 301 đến 310.

Các biển báo chỉ dẫn

Có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật, nền xanh, hình vẽ màu trắng.

Biển chỉ dẫn nhằm dẫn hướng cho người tham gia giao thông biết những định hướng cần thiết hoặc những điều có ích khác, giúp họ tham gia giao thông thuận lợi trên đường.

Các biển báo phụ

Có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật, viền đen, nền trắng, hình vẽ màu đen, thường nằm dưới các biển chính để bổ sung làm rõ ý nghĩa các biển chính.

Biển phụ thường được kết hợp cùng với các loại biển báo giao thông khác như biển báo cấm, biển báo nguy hiểm, biển chỉ dẫn và biển báo hiệu lệnh để thuyết minh rõ hơn về các biển đó.

Vạch kẻ đường

Vạch kẻ đường cũng được coi là một dạng biển báo giao thông nhằm hướng dẫn, điều khiển giao thông trên đường giúp đảm bảo khả năng thông xe cũng như an toàn cho người tham gia giao thông.

Vạch kẻ đường có 2 loại là vạch kẻ đường nằm đứng và vạch kẻ đường nằm ngang.

Các biển báo giao thông thường gặp

Các biển báo giao thông cấm

Hình tròn, viền đỏ, nền trắng và hình vẽ màu đen

Biển Đường cấm

Gặp biển này chúng ta không được phép đi tiếp tới phía trước, vì đây là những đoạn đường cấm.

Biển Cấm đi ngược chiều

Gặp biển này các phương tiện chỉ được phép đi theo chiều đi của mình, nghiêm cấm không được phép đi ngược chiều.

Biển Cấm Ôtô và môtô 2-3 bánh

Các bạn lưu ý, biển này cấm đồng thời cả 3 loại phương tiện là “Xe con”, “Xe máy” và “Xe ba bánh”

Biển “Cấm xe môtô 2-3 bánh”

Khi gặp biển này thì các phương tiện như xe máy, xe lam, xe ba gác không được phép đi vào.

Biển “Cấm xe gắn máy”

Biển “Dừng lại (cả xe ưu tiên)”

Gặp biển này tất cả phương tiện đều phải dừng lại ngay, kể cả xe ưu tiên cũng phải dừng lại. Bởi vì phía trước là nơi nguy hiểm, đoạn đường cụt hoặc vực sâu nguy hiểm.

Biển “Cấm rẽ trái”

Khi gặp biển này các bạn hết sức lưu ý là không được phép rẽ trái và quay đầu xe, biển này cấm đồng thời cả rẽ trái và quay đầu xe.

Biển “Cấm ôtô, môtô đi về bên trái và phải”

Gặp biển này thì lưu ý cái hình mũi tên ở phía dưới, đó là không được phép rẽ trái và rẽ phải

Biển “Cấm quay đầu xe”

Biển “Cấm người đi bộ”

Gặp biển này người đi bộ tuyệt đối không được phép đi vào trong bất cứ trường hợp nào, tránh tai nạn đáng tiếc xảy ra.

Biển “Cấm xe công nông”

Gặp biển này xe công nông không được phép đi vào

Biển “Nhường đường xe cơ giới đi ngược chiều qua đường hẹp”

Gặp biển này các phương tiện như xe máy, xe đạp phải nhường đường cho xe cơ giới(oto) đi ngược chiều mình.

Biển “Cấm các loại xe ở biển phụ đi vào”

Lưu ý, cả 3 biển trên đều có hiệu lực tương đương nhau, nghĩa là khi thấy các biển này thì các phương tiện cho trong hình phía dưới đều không được phép đi vào.

Biển “Cấm dừng-đỗ xe”

Các biển báo giao thông nguy hiểm

Hình tam giác đều, viền đỏ, nền vàng, hình vẽ màu đen

Biển này báo hiệu phía trước bạn là đường hai chiều, chú ý nguy hiểm có thể xảy ra, nên giảm tốc độ lại khi gặp biển này.

Biển “Giao nhau với các tuyến đường cùng cấp”

Thường khi gặp biển này các bạn lưu ý là phải tự giác nhường đường cho nhau, tránh tình trạng xảy ra ùn tắc hoặc xảy ra tai nạn

Biển “Giao nhau với đường không ưu tiên”

Lưu ý khi gặp biển này có nghĩa là bạn đang đi trên đường “Ưu tiên” và bạn được phép đi trước mà không phải nhường đường khi qua nơi giao nhau.

Gặp biển này chúng ta phải giảm tốc độ, quan sát và nhường đường cho phương tiện qua nơi giao nhau ở phía trước.

Gặp biển này các bạn nên chú ý giảm dần tốc độ, phía trước là giao nhau nguy hiểm.

Biển “Giao nhau với đường hai chiều”

Gặp biển này các bạn chú ý giảm tốc độ và đi chậm lại tránh gặp nguy hiểm phía trước.

Biển “Nhường đường cho người đi bộ”

Biển này thì rõ rồi ạ, khi gặp biển này các bạn chú ý quan sát và dừng lại nếu đã có tín hiệu rào chắn.

Biển “Giao nhau với đường sắt không có rào chắn” (biển 2 và 3)

Biển “Đoạn đường hay xảy ra tai nạn”

Khi gặp biển này các bạn nhớ giảm tốc độ, không được phép đi nhanh vì sẽ dễ xảy ra tai nạn.

Các biển hiệu lệnh

Hình tròn, màu xanh lam, hình vẽ màu trắng

Biển chỉ được rẽ trái

Gặp biển này thì bắt buộc chúng ta phải rẽ trái, không được phép đi thằng về phí trước nữa. Thông thường biển này sẽ được đặt ở những đoạn đường cong.

Biển đi thẳng rẽ phải

Biển dành cho người đi bộ

Gặp biển này lưu ý các phương tiện khác không được phép đi vào.

Biển tuyến đường cầu vượt cắt qua

Gặp biển này chú ý phía trước là cầu vượt cắt qua hạn chế chiều cao, các phương tiện hết sức lưu ý.

Biển hướng đi thẳng phải theo

Gặp biển này các phương tiện bắt buộc phải đi thẳng, không được phép rẽ sang hướng khác.

Biển rẽ phải, rẽ trái

Các biển báo giao thông chỉ dẫn

Hình chữ nhật hoặc hình vuông, màu xanh lam, hình vẽ màu trắng.

Biển chỉ dẫn tên đường trên các tuyến đường đối ngoại

Gặp biển này các phương tiện được phép đi.

Biển hết đoạn đường ưu tiên

Gặp biển này các phương tiện phải đi chậm lại và chú ý quan sát để nhường đường cho các phương tiện khác.

Biển được ưu tiên qua đường hẹp

Gặp biển này các phương tiện đang đi trên hướng của mình được quyền ưu tiên đi trước qua nơi đường hẹp

Biển báo hiệu cầu vượt liên thông

Gặp biển này các phương tiện hết sức lưu ý phía trước là cầu vượt liên thông

Hệ Thống Biển Báo Giao Thông Đường Bộ / 2023

Biển báo giao thông đường bộ là một hệt thống biển báo được quy định theo quy chuẩn quốc tế.

Như đã nói ở trên biển báo giao thông đường bộ giúp ổn định trật tự an toàn giao thông. Phải nói rằng nó là thứ không thể thiếu để giúp người tham gia giao thông được lưu hành một cách thuận tiện, không ùn tắc và giảm thiểu tai nạn giao thông.

Khi tham gia giao thông đường bộ, người điều khiển các phương tiện phải nắm bắt rõ được hệ thống biển báo giao thông. Hãy quan sát thật kỹ khi chuyển làn đường, đến ngã ba, ngã tư, hay lên đường cao tốc,… Để có thể lái xe một cách an toàn và đúng luật.

Các loại biển báo giao thông đường bộ cần nhớ

Biển báo cấm

Biển báo cấm là các biển báo mà người tham gia giao thông không được phép thực hiện.

Các biển báo này thường có hình vẽ màu đen bên trong biểu thị cho hoạt động cấm không được vi phạm, nó có viền đỏ nền trắng và có hình tròn, hình tam giác,…

Hiệu lực của các loại biển báo cấm được áp dụng với một số làn được riêng hoặc có thể có giá trị trên tất cả các làn đường. Các làn đường được phân chia rõ ràng bởi hệ thống vạch kẻ đường. Nếu biể báo cấm chỉ áp dụng với một làn đường riêng biệt thì nhất thiết phải có một biển số phụ số 504 đi kèm và được đặt ngay bên dưới biển báo cấm.

Hệ thống biển báo cấm tại Việt Nam gồm có 39 kiểu và được đánh theo số thứ tự từ 101 đến 139

Biển báo chỉ dẫn

Nhóm biển báo giao thông chỉ dẫn này thường có hình chữ nhật hoặc hình vuôn có nền xanh và hình vẽ màu trắng.

Biể chỉ dẫn có tác dụng chỉ dẫn, dẫn hướng hoặc thông báo cho người tham gia giao thông biết những điều định hướng cần thiết hoặc một số điều có ích khác, đồng thời có tác dụng giúp cho giao thông được điều hướng, việc lưu thông được thuận tiện nhằm đảm bảo tính an toàn khi tham gia giao thông.

Biển báo nguy hiểm

Nhóm biển báo nguy hiểm nhằm báo hiệu cho người tham gia giao thông biết trước về tính chất, tình hình của những nguy hiểm có thể xảy ra tại khu vực di chuyển để người điều khiển có những biện pháp xử lý và phòng ngừa an toàn nhất.

Biển báo gia thông hình tam giác là ký hiệu của nhóm biển báo nguy hiểm. Các hình tam giác có viền đỏ, màu vàng là nền, bên trong có hình vẽ màu đen.

Nhóm biển báo này bao gồm có 47 biển và được đánh theo số thứ tự từ 201 đến số 247.

Biển hiệu lệnh

Nhóm biển báo giao thông hiệu lệnh thường là hình dạng tròn, hình vẽ màu trắng và nền xanh.

Nhóm biểu báo này nhằm thông báo với người điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ rằng họ phải tiếp tục thực hiện việc đi thẳng, quay dầu, rẽ trái, rẽ phải hay chạy nhanh hơn,…

Nhóm biển báo này như một hiệu lệnh cho người tham gia giao thông đường bộ phải thi hành theo. Nhóm này gồm 10 biển và được đánh só thứ tự từ 301 đến số 310.

Nhóm biển báo trên đường cao tốc

Như cái tên của nó thì đường cao tốc là đường chỉ dành cho các loại xe cơ giới chạy với tốc độ cao. Nó không giao cắt cùng mức với các tuyến đường khác, đồng thời nó có vạch phân chia cho xe chạy theo hai chiều ngược lại.

Nếu bạn lái xe trên đường cao tốc hãy chú ý đến biển báo của nó, vì chúng có những điểm khác biệt so với những biển báo bình thường.

Một số biển báo trên đường cao tốc nhằm chỉ dẫn hoặc thông báo rằng, có lôiz ra, lối vào, điểm dừng, giao nhau, tốc độ,….

Vạch kẻ đường

Hệ thống vạch kẻ đường cũng được coi là một trong những nhóm biển báo giao thông đường bộ.

Vạch kẻ được được xếp vào loại biển báo chỉ dẫn nó giúp việc điều khiển giao thông trở nên thông thoáng cũng như đảm bảo sự an toàn có người tham gia giao thông. Vạch kẻ đường thường có màu trắng, màu vàng, có vạch liền hoặc vạch đứt, có kẻ nằm đứng và kẻ nằm ngang.

Vạch kẻ đường có thể đứng một mình độc lập hoặc cũng có thể đi cùng với các loại biển báo giao thông đường bộ hoặc đèn tín hiệu. Trong trường hợp vạch kẻ đường kết hợ với biển báo hoặc đèn tín hiệu thì người lái xe phải ưu tiên tuân thủ theo sự điều kiển của đèn báo hiệu.

Vạch kẻ đường được sắp xếp và chia thành hai loại là vạch nagng và vạch đứng.

Biển báo giao thông phụ

Cuối cùng là hệ thống biển báo giao thông phụ, nó giúp người điều khiển hiểu rõ hơn ý nghĩa của các biển báo chính.

Thường thì nó sẽ được kết hợp với những biển báo nguy hiểm, biển báo hiệu lệnh, biển báo chỉ dẫn,… Để tăng thêm sự rõ ràng và bổ sung cho để cho người tham gia giao thông có thể hiểu rõ hơn.

Nhóm biển báo này thường có viền đen, nền trắng và hình vẽ màu đen, nó thường là hình vuông hoặc hình chữ nhật.

Ngoài hệ thống biển báo giao thông đường bộ, thì hệ thống biển báo giao thông tại Việt Nam bao gồm cả những biển báo giao thông đường Thủy, đường hàng không,…Các bạn hãy tìm đọc để hiểu rõ hơn.