Top 11 # Biển Báo Theo Quy Chuẩn 41 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sachlangque.net

Quy Định Mới Về Biển Báo Giao Thông Theo Quy Chuẩn 41 2022

Thì điểm mới thứ nhất: nếu ai đang nghiên cứu quy chuẩn 41 năm 2016 thì dễ dàng nhận thấy các biển báo hiệu, biển báo cấm, biển nhiều lệnh đã rõ ràng dễ hiểu hơn rất nhiều theo hướng nhìn biển thế nào thì đi thế đó. Không còn cái tình trạng là phải đoán mò như trước, một trong những điểm mới quan trọng trong cái quy chuẩn 41 năm 2016 đó là quy định đặt biển hạn chế tốc độ tối đa trung gian, theo đó trong trường hợp chuyển tiếp từ giá trị tốc độ lớn xuống giá trị tốc độ nhỏ mà sự chênh lệch giữa hai giá trị tốc độ này lớn, thì nên đặt biển hạn chế tốc độ tối đa trung gian.

Trên các diễn đàn xã hội quy định này được rất nhiều chủ phương tiện đánh giá là rất hay, do phù hợp với tình hình thực tế khi tham gia giao thông, chấm dứt cái tình trạng mà đang bôn bôn trên đường ở tốc độ cao mẫu phanh cháy đường khi gặp biển hạn chế tốc độ đột ngột, đoạn chuyển tiếp trung gian được quy định là không nhỏ hơn 250 mét cho việc chuyển tiếp từ tốc độ 120km/h xuống 100km/h và không nhỏ hơn 200 mét cho việc chuyển tiếp từ tốc độ 100km/h xuống 80km/h và không nhỏ hơn 150 mét cho việc chuyển tiếp từ tốc độ 80km/h xuống 60km/h.

Cái điểm mới thứ 2: Đó là các phương tiện chính thức được vượt bên phải, khi đi trên đường có nhiều làn đường và làn bên phải không cấm loại xe đó, lái xe được phép vượt phải vì trong quy chuẩn 41 có định nghĩa vượt phải như sau: Vượt phải là tình huống giao thông trong đó một phương tiện vượt phương tiện khác về phía bên phải của phương tiện bị vượt trên cùng một chiều đường tại các đường chỉ có một làn xe cơ giới mỗi chiều, các phương tiện không được phép vượt phải trong một số trường hợp quy định tại luật giao thông đường bộ. Thưa các bạn thì theo khái niệm trên về cơ bản khi lưu thông là lái xe được phép vượt phải, tuy nhiên có một số trường hợp không được phép vượt phải được quy định trong luật giao thông đường bộ. Ví dụ như các trường hợp có biển cấm vượt hoặc là phía trước có chướng ngại vật…vv… Và một trường hợp nữa không được phép vượt phải là khi đi trên cùng một chiều đường tại các đường chỉ có một làn xe cơ giới mỗi chiều, còn là trên các tuyến cao tốc và các tuyến đường có nhiều làn thì lái xe được phép vượt phải theo quy định mới.

Chúng ta sang cái điểm mới thứ 3 của quy chuẩn 41 năm 2016 : Đó là lần đầu tiên có biển quy định tốc độ tối đa cho phép vào ban đêm đó là biển P 127A, đây là quy định mà bám sát tình hình thực tế, bởi tâm lý đa số người điều khiển phương tiện thường hay chủ quan đi quá tốc độ vào ban đêm khi đường vắng, dẫn đến nhiều vụ tai nạn xảy ra do thiếu quan sát không làm chủ được tốc độ. Theo quy định này, biển sẽ được áp dụng trong một số trường hợp qua khu đông dân cư vào ban đêm nhằm mục đích nâng cao tốc độ vận hành khi đường ít xe chạy.

Cái điểm mới thứ tư của quy chuẩn 41 năm 2016 : Đó là quy định cho phép đỗ xe lếch chân trên vỉa hè, cũng không khiến ít cánh tài xế đặt biệt là những người sống tại khu vực đô thị vui mừng, nếu như trước đây khi quy chuẩn 41 năm 2012 thì lại không quy định người điều khiển phương tiện được phép đỗ xe trên hè phố, thì theo quy chuẩn mới tại điểm E 8A, biển số 408A quy định rõ để chỉ dẫn những nơi được phép đỗ xe một phần trên hè phố rộng thì phải đặt biển số I 408A nơi đỗ xe một phần trên hè phố sẽ phải đỗ từ ½ thân xe trở lên trên hè phố. Theo nhận xét của các nhà luật sư và những người tham gia giao thông khi quy định mới này đã cởi trói cho rất nhiều chủ phương tiện, đặt biệt là những người thường xuyên sử dụng ô tô tại khu vực nội đô, nơi mà tất đất tất vàng vốn đang thiến diện tích dành giao thông tĩnh. Đồng thời quy định này cũng góp phần giảm thiểu tình trạng các phương tiện dừng đỗ lẫn chiếm lòng đường, lề đường gây cản trợ giao thông.

Chúng ta sang điểm mới thứ 5 của quy chuẩn 41 năm 2016: Đó là tại phụ lục E phần quy định ý nghĩa sử dụng biển chỉ dẫn của quy chuẩn 41 năm 2016 mục B phần vạch 2.2 đó là cái vạch phân chia các làn xe cùng chiều, dạng vạch đơn liền nét được áp dụng dùng để phân chia các làn xe cùng chiều trong trường hợp không cho phép xe chuyển làn hoặc sử dụng làn khác, xe không được lẫn làn, không được đè lên vạch. Đây là điểm mới mà các chủ phương tiện cần lưu ý nếu không muốn mất tiền oan bởi trước đây các phương tiện được phép đè vạch đối với đường trên 60km/h thì nay không được lẫn làn, không được đè vạch.

Một các điểm mới tiếp theo của quy chuẩn 41 năm 2016: Đó là cái việc đưa biển 412 mà chúng ta vẫn quen gọi là điểm phân làn, từ nhóm biển chỉ dẫn sang thành nhóm biển hiệu lệnh, bắt buộc lái xe phải chấp hành, lái xe phải đi theo đúng làn đường phù hợp các loại phương tiện mà mình đang điều khiển.

Cái điểm mới thứ 7 của quy chuẩn 41 năm 2016: Đó là tại điểm 3.1 khái niệm đường cao tốc đã được làm rõ, theo đó đường cao tốc là đường dành riêng cho xe ô tô và một số loại xe chuyên dùng được phép đi vào, theo quy định của luật giao thông đường bộ đây là bước tiến mới, chấm dứt các tình trạng xe mô tô, xe gắn máy cũng đi vào đường cao tốc gây nguy hiểm cho các phương tiện tham gia trước đây.

Điểm mới tiếp theo của quy chuẩn 41 năm 2016: Đó là xe bán tải thì được xem như xe con, nếu trước đây chưa có quy định cụ thể về các trường hợp xử lý xe bán tải khi tham gia giao thông trong các tình huống như phân làn, đi giờ cấm do đó dẫn đến tình trạng tranh cãi vì nhiều ngời cho rằng xe bán tải phải xử lý tương tự như xe tải, do cùng mang biển số CD. Cũng có nhiều người cho rằng xe bán tải chỉ xử lý như xe con, bởi số chỗ ngồi trên xe và tải trọng của xe tranh cãi trên sẽ chấm dứt theo quy chuẩn 41 năm 2016, theo quy định mới thì xe bán tải có khối lượng chuyên chở cho phép dưới 1,5 tấn ghi theo giấy đăng kiểm và từ 5 chỗ ngồi trở xuống được coi là xe con, như vậy các dòng xe bán tải đáng bán phổ biến tại Việt Nam như: Forzazo, Mitsubishi, Nissan, Toyota thì được coi là xe con theo quy chuẩn 41 năm 2016. Tuy nhiên quy chuẩn 41 năm 2016 chỉ áp dụng cho hệ thống báo hiệu giao thông đường bộ, vì vậy bán tải được coi là xe con chỉ có hiệu lực trong phạm vi về biển báo chỉ dẫn giao thông và không được coi là xe con trong quy định niên hạn sử dụng 200 đăng ký biển số.

Cái điểm mới tiếp theo: Đó là cái biển cấm rẽ trái không cấm quay đầu, đây chính là biển báo P123 có tác dụng cấm rẽ trái hoặc cấm rẽ phải, nhưng không có giá trị cấm quay đầu xe tức là nếu gặp biển này thì chúng ta vẫn được phép quay đầu xe, ngoài ra thì giới tài xế còn có thắc mắc về biển cấm ô tô rẽ trái là ký hiệu là P103C thì có đồng nghĩa với cấm quay đầu hay không? Điều này quy chuẩn 41 năm 2016 không có thay đổi gì so với quy chuẩn 41 năm 2012, cả 2 biển trên đều không đề cập đến nội dung cấm quay đầu khi mô tả về biển 103C, như vậy thì cũng không tồn tại khái niệm cấm ô tô rẽ trái thì cấm luôn quay đầu và do vậy thì ô tô mặc dù bị cấm rẽ trái nhưng vẫn được phép quay đầu.

Một điểm mới tiếp theo: Đó là cái biển báo khu dân cư, thì trước đây nhiều tài xế thường bị xử lý cái lỗi này, vì chạy quá tốc độ trong khu dân cư vì nhầm tưởng là đã hết sau khi đi cả một quãng dường dài không có biển báo, theo quy chuẩn 41 năm 2016 quy định tại cái điều 38 đã tránh hiểu lầm như sau: Nếu đoạn đường phải thi hành biển hiệu lệnh có hiệu lực rất dài thì tại các đường giao nhau, biểu hiệu lệnh phải được nhắc lại đặt ngay sau nơi giao nhau theo hướng đường đang có biển hiệu lệnh, nếu không có biển nhắc lại thì biểu hiệu lệnh được mặc nhiên xem là hết hiệu lực.

Một điểm mới tiếp theo của quy chuẩn 41 năm 2016: Đó là cách cắm biển báo theo quy chuẩn cũ năm 2012 thì có viết: Trên những đường xe chạy với tốc độ cao mà có nhiều làn đường thì biển có thể treo ở phía trên phần xe chạy. Có thể đặt biển hướng dẫn cho từng làn đường và biển được treo trên giá long môn, theo quy định cũ mà viết như vậy thì những các nơi không có giá long môn thì tài xế sẽ khó quan sát, thế nhưng theo quy chuẩn mới năm 2016 thì có viết: Trên những đường mà có xe chạy, có từ 2 làn đường trở lên, biển được treo trên giá long môn hoặc cột cần vươn trong trường hợp mà không đặt trên giá long môn hoặc cột cần vươn thì có thể lắp đặt thêm biển báo ở phía bên trái của chiều xe chạy. Như vậy là theo cách lắp điểm mới của quy chuẩn 41 năm 2016 thì đã mở ra cách cắm biển rất đầy đủ và dễ quan sát hơn với 2 biển báo ở 2 bên đường.

Chúng tôi sang một cái điểm mới nữa tại quy chuẩn 41 của năm 2016: Đó là cái việc hướng dẫn tham gia giao thông khi có đèn vàng, theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiểu đường bộ ban hành kèn theo thông tư số 06 năm 2016, thì khi tín hiệu đèn vàng bật sáng người điều khiển phương tiện phải cho xe dừng trước vạch sơn (vạch dừng xe) nếu không có vạch sơn dừng xe thì phải dừng phía trước đèn tín hiệu theo chiều đi. Trường hợp phương tiện đã tiến sát đến hoặc đã vượt quá vạch sơn (vạch dừng xe) thì phải nhanh chóng đi tiếp ra khỏi nơi giao nhau để tránh nguy hiểm, ở nơi đường giao nhau vừa có đèn tín hiệu, vừa có biển báo hiệu và vạch sơn thì lái xe phải tuân thủ theo hiệu lệnh của đèn tín hiệu. Trường hợp đèn tín hiệu tắt hoặc có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy thì lái xe phải tuân theo biển báo hiệu và vạch sơn theo thứ tự hiệu lực đã quy định.

Kính thưa quý vị và các bạn, như vậy là chúng tôi đã trình bày xong với quý vị và các bạn những điểm lưu ý mới nhất của quy chuẩn 41 của năm 2016 về hệ thống biển báo hiệu đường bộ, xin chào và hẹn gặp lại quý vị và các bạn ở những video lần sau, cảm ơn quý vị và các bạn đã quan tâm theo dõi!

Tags

: Phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho hành khách và người đi mô tô xe máy, Quy chuẩn 41 về biển báo tốc độ, quy định về biển báo giao thông, Quy đinh mới về biển báo đường bộ, QUY ĐỊNH BIỂN BÁO AN TOÀN GIAO THÔNG, quy dinhj bien bao trong tai duowng giao thong, quy chuẩn quốc gia biển báo, quy chuẩn giao thông mới nhất, quy chuẩn biển báo việt nam, quy chuan bien bao công trình giao thong, quy chuan 41, quy cách cắm biển báo hiệu giao thông đường bộ, qui định về KHOẢNG CÁCH vạch sơn trƯỚc giá long môn, phô biên phap luât, nghi dinh 41/2020, chiều cao cột biển báo giao thông, Quy định đặt biển hạn chế tốc độ t của quy chuẩn 41

“Loạn” Biển Báo Trong Quy Chuẩn 41

CSGT Hà Nội lo lắng nếu hàng trăm nghìn xe tải loại dưới 1.500 kg được “sổ lồng” đi như xe ô tô thì các tuyến phố sẽ lâm vào cảnh ùn tắc giao thông trầm trọng

Trở lại với câu chuyện Quy chuẩn 41 quy định xe ô tô chở hàng với khối lượng hàng chuyên chở cho phép dưới 1.500 kg là xe ô tô con, chỉ huy Phòng CSGT đã liệt kê hàng loạt những thông tư, văn bản, Luật phản bác lại điều này. Cụ thể, trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng và theo giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường do Cục Đăng kiểm Việt Nam hoặc tờ khai nguồn gốc xe ô tô nhập khẩu do Tổng cục Hải Quan, Bộ Tài chính cấp đối với các xe ô tô chở hàng (kể cả xe có khối lượng hàng hóa chuyên chở dưới 1.500 kg) đều ghi là xe tải. Việc Quy định xe tải “biến” thành xe ô tô con như Quy chuẩn 41 không chí “đá” với các quy định của các Bộ, ban ngành khác mà còn “đè” lên ngay cả Thông tư 63/2014 của Bộ GTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Theo Thông tư 63 này, xe có khối lượng chuyên chở cho phép dưới 1.500 kg được coi là xe tải.

Thống kê của Phòng CSGT đường bộ – đường sắt cho thấy, hiện nay trên toàn địa bàn thành phố có khoảng 150.000 xe tải loại từ 500 kg đến dưới 1.500 kg. Nếu theo Quy chuẩn 41 của Bộ GTVT thì tất cả số phương tiện này “biến” thành xe ô tô con thì chắc chắn toàn bộ các tuyến phố trong nội đô sẽ ken đặc phương tiện, không có lối để đi lại. “Từ nay đến cuối năm, áp lực về giao thông đè lên vai những người thực thi nhiệm vụ càng nặng nề. Hiện chúng tôi trong quá trình tuần tra kiểm soát rất vất vả trong việc phân luồng, điều chỉnh dòng phương tiện. Trên thực tế đã có không ít các lái xe tải cố tình điều khiển xe tải loại dưới 1.500 kg vào trong phố nội đô kể cả trong giờ cao điểm. Khi CSGT kiểm tra, họ vin vào việc thực hiện theo Quy chuẩn 41 đã gây khó khăn rất lớn cho CSGT làm nhiệm vụ, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng. Đã có khá nhiều lái xe gửi đơn thư khiếu nại về việc xử phạt của CSGT vì họ cho rằng việc xử phạt các lỗi đi xe vào phố cấm trên là không đúng theo Quy chuẩn 41”-đại diện Phòng CSGT bức xúc.

Đằng sau câu chuyện biển báo

Ngoài những nội dung cốt lõi về quy định loại phương tiện sai cơ bản, Phòng CSGT đường bộ – đường sắt cũng phát hiện và kiến nghị đề xuất điều chỉnh một số nội dung về đèn tín hiệu giao thông. Đại úy Phạm Đức Hoàng, Đội trưởng Đội Tham mưu Tổng hợp, Phòng CSGT đánh giá: Nhiều quy định về đèn tín hiệu giao thông trong Quy chuẩn 41 là mới nhưng không phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể, tại dạng 7, phụ lục A về các dạng đèn tín hiệu, Phòng CSGT đề xuất bổ sung đèn tín hiệu giao thông có dạng xếp modul nằm ngang dành cho người đi bộ. Quy chuẩn 41 chỉ quy định xếp nằm dọc là không phù hợp.

Còn tại Dạng 2, phụ lục A đề xuất quy định màu sắc cho các modul đèn mũi tên xanh, vàng, đỏ trên nền đen đối với đèn tín hiệu giao thông dành cho người đi xe đạp. Riêng tại Điểm D, mục A2 đề xuất sửa đổi tín hiệu xanh mũi tên màu xanh trên nền màu đen. Tín hiệu vàng thì mũi tên màu vàng trên nền màu đen. Tín hiệu đỏ thì mũi tên màu đỏ trên nền màu đen. Đáng chú ý, Quy chuẩn 41 quy định về vạch dừng xe tại điểm 7.1 nêu: “Vạch dùng để xác định vị trí người điều khiển phương tiện phải dừng lại khi có tín hiệu đèn đỏ” là trái với quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008. Bên cạnh đó, CSGT cũng đề xuất bổ sung thêm mục quy định riêng về hệ thống biển báo, vạch sơn, đèn tín hiệu chúng tôi xe buýt nhanh BRT. Ngay cả vạch sơn tim đường phân cách hai chiều xe chạy theo quy chuẩn mới là màu vàng nhưng hiện nay hầu như rất ít các tuyến phố được sơn, vẽ, kẻ lại vạch sơn theo quy chuẩn.

Nhiều tuyến phố, ngã tư hiện nay hệ thống vạch sơn, kẻ dường vẫn chưa được thay đổi dù Quy chuẩn 41 có hiệu lực hơn 7 tháng qua

Ngay cả lý do Quy chuẩn 41 nhằm thực hiện Công ước Viên về Giao thông đường bộ cũng không “chuẩn”. Cụ thể, Công ước Viên quy định “Đèn vàng thông báo không một phương tiện giao thông nào được vượt qua vạch dừng lại hay vượt quá đèn tín hiệu giao thông trừ phi phương tiện giao thông đã quá gần vạch dừng lại hay đèn tín hiệu giao thông khi đó việc dừng lại trước vạch dừng lại hoặc đèn tín hiệu giao thông sẽ không an toàn”. Tuy nhiên, theo quy định của khoản 2, Điều 67 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 thì “Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó…chỉ trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện”.

Hoàng Phong

Như vậy, quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Công ước thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ. Trường hợp Bộ GTVT thấy rằng cần phải quy định cụ thể, rõ ràng hơn thì Bộ cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật để tạo cơ sở pháp lý thực hiện.

Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp)

Quy Chuẩn Qcvn 41:2016/Bgtvt Báo Hiệu Đường Bộ

National Technical Regulation on Traffic Signs and Signals

– QCVN 41:2016/BGTVT do Tổng cục Đường bộ Việt Nam biên soạn, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành theo Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08 tháng 4 năm 2016.

Chương 1 – Thứ tự hiệu lực của hệ thống báo hiệu và thứ tự đường ưu tiên

Chương 2 – Hiệu lệnh điều khiển giao thông

Chương 5 – Biển báo nguy hiểm và cảnh báo

Chương 7 – Biển chỉ dẫn trên đường ôtô không phải là đường cao tốc

Chương 8 – Biển phụ, biển viết bằng chữ

Chương 9 – Biển chỉ dẫn trên đường cao tốc

Chương 11 – Cọc tiêu, tiêu phản quang, tường bảo vệ và hàng rào chắn

Chương 12 – Cột kilômét, Cọc H

Chương 14 – Báo hiệu cấm đi lại

Chương 15 – Gương cầu lồi, dải phân cách và lan can phòng hộ

Phụ lục B – Ý nghĩa – Sử dụng biển báo cấm

Phụ lục C – Ý nghĩa – Sử dụng biển báo nguy hiểm và cảnh báo

Phụ lục D – Ý nghĩa – Sử dụng biển hiệu lệnh

Phụ lục E – Ý nghĩa – Sử dụng biển chỉ dẫn

Phụ lục F – Ý nghĩa – Sử dụng các biển phụ

Phụ lục I – Cột kilômét – Cọc H – Mốc lộ giới

Phụ lục K – Kích thước chữ viết và con số trên biển báo

Phụ lục M – Chi tiết các thông số thiết kế biển báo

Phụ lục N – Mã hiệu đường cao tốc

Phụ lục O – Kích thước mã hiệu đường bộ

Phụ lục P – Chi tiết các thông số thiết kế biển báo chỉ dẫn trên đường cao tốc

QUY ĐỊNH CHUNG

Quy chuẩn này quy định về hệ thống báo hiệu đường bộ, bao gồm: hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, tường bảo vệ và rào chắn, cột kilômét, cọc H, mốc lộ giới, gương cầu lồi, dải phân cách có lan can phòng hộ.

Quy chuẩn này quy định về hệ thống báo hiệu áp dụng cho tất cả các tuyến đường bộ trong mạng lưới đường bộ Việt Nam bao gồm: đường cao tốc, đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng và các đường nằm trong hệ thống đường bộ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Hiệp định GMS-CBTA, các thỏa thuận trong ASEAN và các thỏa thuận quốc tế khác) – sau đây gọi là các tuyến đường đối ngoại.

Tải trọng bản thân xe là khối lượng của xe, đo bằng kilôgam (kg) hoặc tấn (t) ở trạng thái tỉnh được ghi theo thông số quy định trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không kể đến khối lượng người trong xe và khối lượng hàng hóa trên xe.

Tải trọng toàn bộ xe (tổng tải trọng) là bằng tải trọng bản thân xe cộng với khối lượng của người, hành lý và hàng hóa xếp trên xe (nếu có).

Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không được lớn hơn 50 cm 3.

Hàng nguy hiểm là hàng hóa có chứa các chất nguy hiểm khi chở trên đường có khả năng gây nguy hại tới tính mạng, sức khỏe con người, môi trường, an toàn và an ninh quốc gia.

Tốc độ suất tích lũy 85% (V85) là tốc độ vận hành mà ở đó 85% các lái xe vận hành xe chạy từ tốc độ này trở xuống.

Tầm nhìn dừng xe an toàn là khoảng cách đo dọc theo đường tính từ mũi xe để một chiếc xe đang chạy có thể dừng lại an toàn trước một vật thể tỉnh bất ngờ xuất hiện trên cùng một làn đường ở phía trước.

QUY ĐỊNH KỸ THUẬT THỨ TỰ HIỆU LỰC CỦA HỆ THỐNG BÁO HIỆU VÀ THỨ TỰ ĐƯỜNG ƯU TIÊN HIỆU LỆNH ĐIỀU KHIỂN GIAO THÔNG

Tất cả các lái xe, người đi bộ đều phải chấp hành nghiêm chỉnh hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, kể cả trong trường hợp hiệu lệnh trái với tín hiệu của đèn điều khiển giao thông, biển báo hiệu hoặc vạch kẻ đường.

Người điều khiển giao thông phải là cảnh sát giao thông mặc sắc phục theo quy định của Bộ Công an hoặc là người được giao nhiệm vụ điều khiển giao thông có mang băng đỏ rộng 10 cm ở khoảng giữa cánh tay phải.

Đèn tín hiệu ngoài ba dạng đèn chính còn được bổ sung một số đèn phụ tùy thuộc vào quy mô nút giao và tổ chức giao thông. Việc bố trí đèn phụ được thực hiện tại các nút giao rộng và nơi đường có nhiều xe tải, xe buýt có kích thước lớn lưu thông gây cản trở tầm nhìn.

Người đi bộ chỉ được phép đi qua đường khi tín hiệu đèn xanh bật sáng và đi trong hàng đinh gắn trên mặt đường hoặc vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường. Tín hiệu đèn xanh nhấp nháy báo hiệu chuẩn bị chuyển sang tín hiệu màu đỏ; người đi bộ lúc này không nên bắt đầu đi ngang qua đường.

a) Xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh có biển hiệu riêng.

b) Xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật có cờ hiệu “TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP” cắm ở đầu xe phía bên trái người lái.

Ở nơi đường giao nhau vừa có đèn tín hiệu vừa có biển báo hiệu và vạch sơn thì lái xe phải tuân theo hiệu lệnh của đèn tín hiệu. Trong trường hợp không sử dụng đèn tín hiệu để điều khiển giao thông theo từng làn đường riêng thì tín hiệu đèn có tác dụng cho toàn bộ phần đường xe chạy theo hướng xe đến. Trong trường hợp đèn tín hiệu tắt hoặc có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy thì lái xe phải tuân theo biển báo hiệu và vạch sơn theo thứ tự hiệu lực đã quy định.

Kích thước, hình dạng và các quy định khác của đèn tín hiệu quy định ở Phụ lục A của Quy chuẩn này.

BIỂN BÁO HIỆU

Biển báo hiệu đường bộ trong Quy chuẩn này được chia thành 5 nhóm cơ bản sau đây: biển báo cấm; biển hiệu lệnh; biển báo nguy hiểm và cảnh báo; biển chỉ dẫn; biển phụ, biển viết bằng chữ.

Biển báo hiệu trên đường cao tốc và đường đối ngoại phải phù hợp với các quy định nêu tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

là nhóm biển biểu thị các điều cấm mà người tham gia giao thông không được vi phạm. Biển báo cấm chủ yếu có dạng hình tròn, viền đỏ, nền màu trắng, trên nền có hình vẽ hoặc chữ số, chữ viết màu đen thể hiện điều cấm, trừ một số trường hợp đặc biệt.

Người tham gia giao thông phải chấp hành các hiệu lệnh trên biển báo. Trừ một số biển đặc biệt, các biển thể hiện hình tròn trên nền xanh lam có hình vẽ màu trắng đặc trưng cho hiệu lệnh nhằm báo cho người tham gia giao thông đường biết.

a) Số hàng đơn vị ≤ 5 thì lấy bằng 5;

(*) Đường ô tô thông thường là các đường ô tô không phải là đường ô tô cao tốc, đường đôi, đường đô thị.

(**) Hệ số kích thước biển chỉ dẫn trong Bảng 2 không áp dụng cho các đường cao tốc. Đường cao tốc có quy định riêng tại Chương 9 của Quy chuẩn này.

(***) Đối với các biển báo lắp đặt trên giá long môn, giá cần vươn của đường đôi trong đô thị sử dụng hệ số kích thước như quy định cho đường đôi ngoài đô thị.

Màu sắc trên biển phải tuân theo quy định kỹ thuật về màu sắc và thống nhất trong các nhóm biển sử dụng trên mạng lưới đường bộ.

Khi ở một vị trí đã có biển báo có thông tin tỉnh đồng thời lại có thêm biển báo có thông tin thay đổi mà hai biển này có ý nghĩa khác nhau thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của biển báo hiệu có thông tin thay đổi.

Khoảng cách giữa các từ trong dòng thông tin từ 75 % – 100 % chiều cao chữ. Khoảng cách giữa các dòng chữ từ 50 % – 75 % chiều cao chữ. Các thông tin phải là tiếng Việt đủ dấu. Chiều cao chữ tối thiểu phải là 450 mm cho các đường có tốc độ hạn chế tối đa từ 70 km/h trở lên và 300 mm với các tốc độ hạn chế tối đa dưới 70 km/h.

18.2.4. Độ sáng của biển báo điện tử phải đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và phải được nhìn rõ vào ban ngày và ban đêm. Chữ phải sáng trên nền đen hoặc trên nền tối hơn.

Trường hợp không xác định được cự ly nhìn thấy biển, những nơi vị trí biển báo có thể bị khuất thì cho phép lấy tầm nhìn đảm bảo người tham gia giao thông có thể nhìn thấy biển báo hiệu là 150 m trên những đường xe chạy với tốc độ cao và có nhiều làn đường, 100 m trên những đường ngoài khu đông dân cư và 50 m trên những đường trong khu đông dân cư.

Biển viết bằng chữ áp dụng riêng đối với xe thô sơ và người đi bộ, trong trường hợp hạn chế được phép đặt mặt biển song song với chiều đi.

Ở trong khu dân cư hoặc trên các đoạn đường có hè đường cao hơn phần xe chạy thì cho phép đặt biển trên hè đường nhưng mép mặt biển phải cách mép hè là 0,5 m và không choán quá nửa bề rộng hè đường. Nếu không đảm bảo được nguyên tắc đó thì phải treo biển ở phía trên phần xe chạy.

Ghi chú: con số ghi trên hình biểu thị thứ tự ưu tiên

Khoảng cách giữa các mép biển với nhau là 5 cm, độ cao từ mép thấp nhất của các biển trong nhóm biển đến mặt đường là 1,8 m đối với đường ngoài phạm vi khu đông dân cư và 2,0 m đối với đường trong phạm vi khu đông dân cư.

Các loại biển báo hiệu đường bộ phải được dán màng phản quang đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật để thấy rõ cả ban ngày và ban đêm.

BIỂN BÁO CẤM

Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm. Người tham gia giao thông phải chấp hành những điều cấm mà nội dung biển đã thể hiện.

– Biển số P.102: Cấm đi ngược chiều;

– Biển số P.103 (b,c): Cấm xe ôtô rẽ trái, rẽ phải;

– Biển số P.105: Cấm xe ôtô và xe máy;

– Biển số P.106 (a,b): Cấm xe ôtô tải;

– Biển số P.106c: Cấm các xe chở hàng nguy hiểm;

– Biển số P.107: Cấm xe ôtô khách và xe ôtô tải;

– Biển số P.107a: Cấm xe ôtô khách;

– Biển số P.107b: Cấm xe ôtô taxi;

– Biển số P.108: Cấm xe kéo rơ-moóc;

– Biển số P.108 a: Cấm xe sơ-mi rơ-moóc;

– Biển số P.110 b: Cấm xe đạp thồ;

– Biển số P.111 a: Cấm xe gắn máy;

– Biển số P.111 (b) hoặc (c): Cấm xe ba bánh loại có động cơ (xe lam, xích lô máy);

– Biển số P.111d: Cấm xe ba bánh không có động cơ (xích lô);

– Biển số P.112: Cấm người đi bộ;

– Biển số P.113: Cấm xe người kéo đẩy;

– Biển số P.114: Cấm xe súc vật kéo;

– Biển số P.115: Hạn chế tải trọng toàn bộ xe cho phép;

– Biển số P.116: Hạn chế tải trọng trục xe (trục đơn);

– Biển số P.117: Hạn chế chiều cao;

– Biển số P.118: Hạn chế chiều ngang;

– Biển số P.119: Hạn chế chiều dài xe ôtô;

– Biển số P.120: Hạn chế chiều dài xe ôtô, máy kéo rơ-moóc hoặc sơ-mi-rơ-moóc;

– Biển số P.121: Cự ly tối thiểu giữa hai xe;

– Biển số P.123 (a,b): Cấm rẽ (phải, trái);

– Biển số P.124 (a,b): Cấm quay đầu xe; Cấm ô tô quay đầu xe;

– Biển số P.124 (c,d): Cấm rẽ trái và quay đầu xe; Cấm rẽ phải và quay đầu xe;

– Biển số P.124 (e,f): Cấm ô tô rẽ trái và quay đầu xe; Cấm ô tô rẽ phải và quay đầu xe;

– Biển số P.124 d: Cấm xe ôtô rẽ trái và quay đầu xe;

– Biển số P.126: Cấm xe ôtô tải vượt;

– Biển số P.127: Tốc độ tối đa cho phép;

– Biển số P.127 a: Tốc độ tối đa cho phép về ban đêm;

– Biển số P.127 b: Biển gộp tốc độ tối đa cho phép theo làn đường đặt bên đường hoặc trên cột cần vươn;

– Biển số P.127 c: Biển gộp tốc độ tối đa cho phép theo phương tiện trên từng làn đường;

– Biển số P.127d: Biển hết hạn chế tốc độ tối đa cho phép trên biển ghép

– Biển số P.128: Cấm sử dụng còi;

– Biển số P.130: Cấm dừng xe và đỗ xe;

– Biển số P.131 (a,b,c): Cấm đỗ xe;

– Biển số P.132: Nhường đường cho xe cơ giới đi ngược chiều qua đường hẹp;

– Biển số DP.133: Hết cấm vượt;

– Biển số DP.134: Hết hạn chế tốc độ tối đa;

– Biển số DP.135: Hết tất cả các lệnh cấm;

– Biển số P.136: Cấm đi thẳng;

– Biển số P.137: Cấm rẽ trái, rẽ phải;

– Biển số P.138: Cấm đi thẳng, rẽ trái;

– Biển số P.139: Cấm đi thẳng, rẽ phải;

– Biển số P.140: Cấm xe công nông và các loại xe tương tự.

Khi cần thiết cấm phương tiện theo giờ phải đặt biển phụ số S.508 dưới biển cấm, có thể viết thêm chú thích bằng tiếng Việt và phụ đề tiếng Anh trong biển này (nếu khu vực đó có nhiều người nước ngoài tham gia giao thông hoặc tuyến đường đối ngoại).

Để báo đường cấm nhiều loại phương tiện có thể kết hợp đặt các ký hiệu phương tiện bị cấm trên một biển theo quy định như sau:

Kích thước, hình dạng và màu sắc của biển được quy định chi tiết ở Điều 16, Điều 17 và Phụ lục B của Quy chuẩn này.

Biển có hiệu lực bắt đầu từ vị trí đặt biển trở đi. Nếu vì lý do nào đó, biển phải đặt cách xa vị trí định cấm thì phải đặt biển phụ số S.502 để chỉ rõ khoảng cách từ sau biển cấm đến vị trí biển bắt đầu có hiệu lực.

BIỂN BÁO NGUY HIỂM VÀ CẢNH BÁO

Biển báo nguy hiểm và cảnh báo được dùng để báo cho người tham gia giao thông biết trước tính chất của sự nguy hiểm hoặc các điều cần chú ý phòng ngừa trên tuyến đường. Khi gặp biển báo nguy hiểm và cảnh báo, người tham gia giao thông phải giảm tốc độ đến mức cần thiết, chú ý quan sát và chuẩn bị sẵn sàng xử lý những tình huống có thể xẩy ra để phòng ngừa tai nạn.

– Biển số W.201 (a,b): Chỗ ngoặt nguy hiểm;

– Biển số W.201 (c,d): Chỗ ngoặt nguy hiểm có nguy cơ lật xe;

– Biển số W.202 (a,b): Nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp;

– Biển số W.203 (a,b,c): Đường bị thu hẹp;

– Biển số W.204: Đường hai chiều;

– Biển số W.205 (a,b,c,d,e): Đường giao nhau;

– Biển số W.206: Giao nhau chạy theo vòng xuyến;

– Biển số W.207(a,b,c,d,e,f,g,h,i,k,l): Giao nhau với đường không ưu tiên;

– Biển số W.208: Giao nhau với đường ưu tiên;

– Biển số W.209: Giao nhau có tín hiệu đèn;

– Biển số W.210: Giao nhau với đường sắt có rào chắn;

– Biển số W.211a: Giao nhau với đường sắt không có rào chắn;

– Biển số W.211b: Giao nhau với đường tầu điện;

– Biển số W.214: Cầu quay – Cầu cất;

– Biển số W.215 a: Kè, vực sâu phía trước;

– Biển số W.215 (b,c): Kè, vực sâu phía bên trái và phía bên phải;

– Biển số W.216 a: Đường ngầm;

– Biển số W.216 b: Đường ngầm có nguy cơ lũ quét;

– Biển số W.219: Dốc xuống nguy hiểm;

– Biển số W.220: Dốc lên nguy hiểm;

– Biển số W.221 a: Đường lồi lõm;

– Biển số W.221 b: Đường có gồ giảm tốc;

– Biển số W.222 a: Đường trơn;

– Biển số W.222 b: Lề đường nguy hiểm;

– Biển số W.223 (a,b): Vách núi nguy hiểm;

– Biển số W.224: Đường người đi bộ cắt ngang;

– Biển số W.226: Đường người đi xe đạp cắt ngang;

– Biển số W.227: Công trường;

– Biển số W.228 c: Sỏi đá bắn lên;

– Biển số W.228 d: Nền đường yếu;

– Biển số W.229: Dải máy bay lên xuống;

– Biển số W.231: Thú rừng vượt qua đường;

– Biển số W.233: Nguy hiểm khác;

– Biển số W.234: Giao nhau với đường hai chiều;

– Biển số W.236: Kết thúc đường đôi;

– Biển số W.238: Đường cao tốc phía trước;

– Biển số W.239: Đường cáp điện ở phía trên;

– Biển số W.241: Ùn tắc giao thông;

– Biển số W.242 (a,b): Nơi đường sắt giao vuông góc với đường bộ;

– Biển số W.243 (a,b,c): Nơi đường sắt giao không vuông góc với đường bộ;

– Biển số W.244: Đoạn đường hay xảy ra tai nạn;

– Biển số W.245 (a,b): Đi chậm (a), Đi chậm có chỉ dẫn tiếng Anh (b);

– Biển số W.246 (a,b,c): Chú ý chướng ngại vật;

Tại các nơi đường được ưu tiên giao với các đường khác mà không được xem là nơi đường giao nhau theo quy định của Quy chuẩn này thì không cần đặt các biển W.207, W.208. Tuy nhiên, có thể sử dụng các biển này khi thấy cần thiết.(Xem tiếp trên file đính kèm)

4 Điểm Trong Quy Chuẩn 41 Mới Về Báo Hiệu Đường Bộ Cần Biết

Vừa qua, Bộ GTVT đã ban hành Thông tư số 54/2019 về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2019 (gọi tắt là Quy chuẩn 41 mới)

Quy chuẩn 41:2019 thay thế Quy chuẩn 41:2016 và đã có hiệu lực từ 1-7-2020.

Theo Phòng CSGT (PC08, Công an TP.HCM), về cơ bản, quy chuẩn 41 mới đã được kế thừa, bổ sung, điều chỉnh trên cơ sở của các quy chuẩn trước. Vì vậy, nội dung cơ bản không khác nhiều mà chỉ theo hướng rõ ràng hơn, chi tiết hơn. Từ đó, hạn chế tình trạng cắm quá nhiều biển cảnh báo, khắc phục các bất cập của quy chuẩn trước so với thực tế khi áp dụng vào thực tiễn.

PC08 nhấn mạnh một số điểm thay đổi trong Quy chuẩn 41 mới mà người tham gia giao thông cần lưu ý khi đi trên đường.

Dùng từ “xe con”, “xe tải” thay thế cho “ô tô con”, “ô tô tải”

Về giải thích từ ngữ, trong Điều 3 đã nói rõ, khái niệm “ô tô con”, “ô tô tải” có nhiều sự thay đổi. Theo đó, phải gọi là xe con, xe tải (theo quy định về đăng kiểm phương tiện). Các xe bán tải (xe pickup), xe VAN dưới 950 kg cũng được xem là xe con.

Thay “vượt phải” thành “vượt xe”

Khái niệm “Vượt phải” mà trước đây hay dùng không còn nữa, thay vào đó là khái niệm “Vượt xe”.

“Vượt xe” là tình huống giao thông mà xe đi sau vượt xe đi trước. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái (trừ các trường hợp được quy định trong Luật Giao thông đường bộ).

Xe đi với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải, khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về phần đường bên phải của phần xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

Quy định mới về biểu tượng trên biển báo

Quy chuẩn 41 mới quy định cụ thể các biểu tượng, hình vẽ trên biển đối với từng loại phương tiện.

Quy định mới về hiệu lực của biển báo

Đối với biển báo cấm và biển báo hiệu lệnh, Quy chuẩn 41 mới có quy định chi tiết và cụ thể hơn nhằm giúp người dân dể hiểu và thực hiện.

Đối với biển báo cấm: Nếu đoạn đường phải thi hành biển cấm đi qua các nút giao (trừ giao với các ngõ, ngách, hẻm hoặc lối ra vào cơ quan, đơn vị; hoặc khu đất lân cận mà phương tiện chỉ có thể ra, vào khu đất bằng một lối đi chung), biển cấm phải được nhắc lại đặt phía sau nút giao theo hướng đường đang có biển cấm, trừ các trường hợp có quy định riêng hoặc có biển phụ kèm theo.

Đối với biển báo hiệu lệnh: Nếu đoạn đường phải thi hành biển hiệu lệnh đi qua các nút giao (trừ giao với các ngõ, ngách, hẻm hoặc lối ra vào cơ quan, đơn vị; hoặc khu đất lân cận mà phương tiện chỉ có thể ra, vào khu đất bằng một lối đi chung), biển hiệu lệnh phải được nhắc lại đặt phía sau nút giao theo hướng đường đang có biển hiệu lệnh, trừ các biển R.420 (Bắt đầu khu đông dân cư), R.421 (Kết thúc khu đông dân cư), các biển hiệu lệnh có tác dụng trong khu vực và các trường hợp có quy định riêng.

CSGT chúng tôi đã được tập huấn, quán triệt

Phòng PC08, chúng tôi đã tổ chức tập huấn, quán triệt cho toàn bộ CSGT, đặc biệt là cán bộ CSGT trực tiếp thực hiện công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính để đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

PC08 mong muốn các nội dung của Quy chuẩn 41 mới được triển khai rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn TP.

CSGT sẽ phối hợp với các cơ quan, sở, ban, ngành và đoàn thể tổ chức các buổi tuyên truyền, báo cáo chuyên đề đồng thời phối hợp cùng với cơ quan truyền thông và các đơn vị nghiệp vụ đưa tin về những điểm mới, bổ sung và điều chỉnh trong Quy chuẩn 41, giúp cho mọi người dân nắm được nội dung và tinh thần của Quy chuẩn.

Phòng CSGT (PC08, Công an TP.HCM)